Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐẶC SẢN ĐỊA PHƯƠNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐẶC SẢN ĐỊA PHƯƠNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 9 tháng 1, 2014

10 lý do phải một lần đến đảo Bình Ba

Và nếu đã một lần trải nghiệm cuộc sống tuyệt vời tại đảo Bình Ba, không ít người muốn trở lại thêm nhiều lần nữa.
Thuộc thành phố Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa), đảo Bình Ba nổi tiếng với tên ví von “đảo tôm hùm” cùng sự trù phú của vùng đảo tuy nhỏ và còn khá hoang sơ. Thêm vào đó, Bình Ba đang dần phát triển thành vùng du lịch hút khách. Vài năm nay, người dân trên đảo đã quen thấy những du khách từ phương xa háo hức đặt chân lên bến cảng, say mê khám phá từng ưu điểm tuyệt vời của vùng đảo hoang sơ.
Description: Bình Ba, Cam Ranh, Khánh Hòa, biển đảo
Nếu chưa từng đến Bình Ba, có 10 lý do kéo bạn ra đảo mùa hè này:
1. Đi lại dễ dàng
Description: Bình Ba, Cam Ranh, Khánh Hòa, biển đảo
Cách cảng Cam Ranh khoảng 15 km, để đến hòn đảo nhỏ xinh này, từ cảng Đá Bạc mất khoảng hơn 1 giờ lênh đênh trên biển. Mỗi ngày có 2 chuyến đò từ Cam Ranh sang Bình Ba: 10h00 sáng và 4h00 chiều, từ Bình Ba về Cam Ranh: 5 giờ sáng và 12h30 trưa, giá tàu khoảng 15-20 nghìn đồng. Nhưng du khách cũng có thể thuê tàu riêng nếu đi nhiều người và không muốn phải chờ đợi.
2. Biển cực trong xanh
Description: Bình Ba, Cam Ranh, Khánh Hòa, biển đảo
Mang đặc điểm của vùng đảo hoang sơ, ở Bình Ba có rất nhiều bãi biển đẹp với cát trắng, nước trong veo, phản chiếu trời xanh ngắt. Vùng biển này cũng chưa được đưa vào khai thác dịch vụ du lịch nên mọi thứ đều nguyên sơ. Thiên nhiên trên đảo mang đến cảm giác bình yên, thư thả, vô cùng thích hợp để nghỉ ngơi, tránh khỏi sự xô bồ của thành thị. Đặc biệt, người dân ở đây rất có ý thức bảo vệ môi trường sống, các bãi biển, cầu cảng đều rất sạch và hiếm thấy rác.
3. Bãi tắm vắng người
Description: Bình Ba, Cam Ranh, Khánh Hòa, biển đảo
Du khách đến với Bình Ba cũng chỉ mới vài năm nay, số lượng cũng không quá nhiều. Trên đảo cũng chỉ có khoảng 700 hộ dân với 5.000 người. Tình trạng chen chúc, đông đúc ở các bãi biển là hoàn toàn không có ở đây. Bạn có thể thỏa thích ngâm mình trong làn nước sạch trong, nhìn ngắm trời biển bao la.
4. “Đổi biển” ngắm mặt trời
Description: Bình Ba, Cam Ranh, Khánh Hòa, biển đảo
3 bãi biển nổi tiếng ở Bình Ba là Bãi Chướng, Bãi Nồm và Bãi Nhà Cũ. Mỗi bãi đều có đặc điểm riêng để du khách khám phá tùy theo sở thích. Nếu như Bãi Chướng là nơi ngắm bình minh tuyệt đẹp, thì căng lều nằm thưởng thức cảnh hoàng hôn ở Bãi Nồm cũng là lựa chọn hay. Bãi Nhà Cũ được yêu thích bởi nước trong veo khá sâu, quang cảnh xung quanh thơ mộng. Bãi Nhà Cũ cũng được nhiều người chọn để lặn biển ngắm san hô, thử tài bắt hải sản.
Description: Bình Ba, Cam Ranh, Khánh Hòa, biển đảo
5. Người dân làng chài thân thiện, hiền lành
Description: Bình Ba, Cam Ranh, Khánh Hòa, biển đảo
Các dịch vụ phục vụ khách du lịch ở Bình Ba hiện tại cũng chỉ do người dân nơi đây làm, từ cho thuê nhà ngủ lại, đến cho thuê tàu đánh cá chở vòng quanh các đảo, tham quan bè nuôi tôm hùm, hải sản, hướng dẫn lặn biển… Nhưng du khách đến đây đều yên tâm và hài lòng bởi sự chân chất, thân thiện của các “chủ nhà” này.
6. Hải sản tràn trề đủ loại
Description: Bình Ba, Cam Ranh, Khánh Hòa, biển đảo
Sau buổi sáng ngắm bình minh, bạn có thể theo hướng dẫn đến chợ sớm và tự tay chọn những món hải sản tươi ngon và nhờ người dân nơi đây làm thành món ăn. Mực lá ở đây dày và ngọt, nhum thì nhiều vô kể, sò huyết, cá đủ loại ngọt thịt… được chế biến thành nhiều món như nướng, hấp, làm gỏi.
7. Ăn tôm hùm thỏa thích
Description: Bình Ba, Cam Ranh, Khánh Hòa, biển đảo
Đặc sản Bình Ba, cũng là món nhất định phải ăn khi đến đây. Với hàng trăm bè tôm hùm khắp đảo, cũng là phương tiện sinh sống chính của nhiều hộ gia đình, giá tôm hùm ở Bình Ba được xem là “giá gốc”, với nhiều cách chế biến đúng chất dân chài, giữ độ ngon, dai, ngọt đáng giá của tôm hùm. Du khách đến đây đều mê mẩn món tôm hùm nướng.
8. Tự tay nướng tôm, mực tự bắt ngay tại bè
Description: Bình Ba, Cam Ranh, Khánh Hòa, biển đảo
Một hành trình tham quan được nhiều người thích thú là lên các bè tôm hùm, hải sản để tự tay bắt lấy những chú tôm to còn bơi lặn dưới nước biển. Ngay khi bắt lên, du khách sẽ được hướng dẫn chế biến ngay tại chỗ và tổ chức tiệc say sưa ngay trên bè, giữa bờ biển bao la. Một bữa tiệc tươi ngon đúng nghĩa.
9. Chi phí mềm
Hải sản ở đảo Bình Ba được bán với giá khá rẻ, cộng thêm sự hiếu khách, thân thiện của người dân, giá chế biến cũng “nhẹ hều”. Các dịch vụ tự phát thì càng bình dân. Ở Bình Ba còn hấp dẫn bởi các món ăn vặt vùng biển bán gần các bãi tắm với giá rẻ và ngon vô cùng.
10. Mặc áo phao ăn tối trên mặt biển
Description: Bình Ba, Cam Ranh, Khánh Hòa, biển đảo
Bạn có bao giờ nằm lênh đênh trên mặt biển và nhấm nháp bữa tối thi vị, cùng chút rượu nhẹ hay đồ uống yêu thích? Ở Bình Ba hoàn toàn có thể. Du khách sẽ được mặc chiếc áo phao, nằm trên biển trong veo, mát rười rượi và thưởng thức bữa tối làm từ những hải sản tự mình câu/bắt được. Còn gì thi vị hơn thế.
Theo Ivivu

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011

Làng nón ngựa Phú Gia

Nếu xứ Huế nổi tiếng với nón bài thơ - loại nón lá thanh lịch, mỏng và nhẹ, lồng trong lớp lá là hình ghép hoa lá cùng những câu thơ, câu văn thì ở đất võ Bình Định rất có tiếng với nón ngựa Phú Gia – loại nón mang vẻ đẹp mạnh mẽ của con nhà võ, thường được thêu hoa văn theo các đề tài long, lân, quy, phụng; lưỡng long tranh châu; mai lan cúc trúc… hoặc cảnh vật trên nang sườn nón.

Khung (sườn) nón ngựa được làm từ cây dang
 trên núi cao, được bện (bủa) và thêu ren rất công phu
Nghề làm nón ngựa ra đời cách đây gần 100 năm. Trước kia, loại nón này được sản xuất ở rất nhiều nơi thuộc huyện An Nhơn và Phù Cát, đặc biệt là ở Kiều Đông, Kiều Nguyên, Phú Gia (ngày nay thuộc địa phận xã Cát Tường, huyện Phù Cát) rồi được chuyển về bán tại chợ Gò Găng. Nón chỉ dành riêng cho những người giàu sang, quyền quý, đặc biệt, những chiếc nón có bịt bạc, chạm trổ hình rồng phượng trên đỉnh nón, giới quan lại, địa chủ: các lý trưởng, chánh tổng, tại các làng quê ở Bình Định thường dùng để đội khi cưỡi ngựa, cũng chính vì điều này mà nó có tên là nón ngựa Gò Găng.
Ngày nay, nghề chằm nón ngựa chỉ còn được duy trì ở làng Phú Gia (xã Cát Tường) - cách Gò Găng khoảng 5km về hướng đông.

Để chằm được một chiếc nón ngựa, người thợ phải thực hiện bốn công đoạn: tạo sườn mê, thắt nang sườn, thêu hoa văn trên sườn và lợp lá chằm chỉ. Mỗi công đoạn có một nhóm người làm theo hình thức chuyên môn hóa.

Nghệ nhân làng Phú Gia đang thực hiện công đoạn làm nón

Nguyên liệu để làm nón là sử dụng cây giang làm sườn, lá kè (cọ) làm lá lợp nón, cây dứa (thơm tàu) làm chỉ (ngày nay, người ta đã thay thế bằng sợi dây cước mịn). Dụng cụ làm nón: lồng tre (để sấy khô lá kè), kéo chuyên dụng (cắt lá kè), dao vuốt (chẻ) nang sườn, bàn chốt nang (có những lỗ tròn nhiều kích cỡ khác nhau để tướt nang tròn đều), kim chuyên dụng chằm nón, khuôn nón mẫu.

Tuy nghề chằm nón đem lại thu nhập không cao nhưng nó đã giúp cho người dân lao động nơi đây có việc làm lúc nông nhàn. Quan trọng hơn, nghề làm nón ngựa truyền thống đang được nhà nước quan tâm, khôi phục và những chiếc nón ngựa chỉ có ở vùng đất võ Bình Định đã và đang trở thành những sản phẩm du lịch độc đáo hấp dẫn biết bao du khách.

Theo ông Đỗ Văn Lang, Tổ trưởng làng nghề nón ngựa Phú Gia cho biết: Kể từ khi Festival Bình Định được tổ chức hàng năm, rất đông du khách trong nước và nước ngoài, đặc biệt là du khách Pháp đã đến tham quan, tìm hiểu làng nghề nón ngựa Phú Gia, họ rất thích loại nón này và hết lời khen ngợi bàn tay tài hoa, khéo léo của những người thợ thủ công, họ đã đặt mua nhiều sản phẩm nón ngựa mang về làm kỷ niệm, tặng bạn bè, người thân.

Với sự phát triển của đất nước hiện nay, nón ngựa Phú Gia là một phần nét đẹp trong văn hoá du lịch Bình Định. Nghề làm nón ở đây không chỉ là một nghề thủ công thuần tuý, mà nó còn đóng vai trò như một hoạt động nghệ thuật, đem lại cho xã hội những sản phẩm nghệ thuật độc đáo, có ích.
                                                                                                    Thanh Hải biên tập
(Nguồn: Trung tâm Thông tin du lịch)

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

10 đặc sản tiến vua nổi tiếng của người Việt

Để được đưa vào cung tiến vua, món ăn phải có giá trị dinh dưỡng cao và hương vị tuyệt vời hiếm thấy. Có thể nói, những món đặc sản tiến vua này là "vua" của các loại đặc sản.

Nền ẩm thực phong phú của Việt Nam từ thời xa xưa đã sản sinh ra hàng trăm, hàng nghìn món ăn đặc sắc. Một phần nhỏ trong số những món ăn đó hưởng vị trí trang trọng đặc biệt khi được đưa vào cung đình để cung tiến các bậc vua chúa. Để được tuyển chọn, đó phải là những món ăn có giá trị dinh dưỡng cao và hương vị tuyệt vời hiếm thấy. Có thể nói, những món đặc sản tiến vua này là "vua" của các loại đặc sản. 
Dưới đây là một số đặc sản tiến vua nổi tiếng ở Việt Nam:
1. Bánh Phu Thê
Là nơi phát tích của vương triều nhà Lý, Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) thường được gọi là đất vua. Đây cũng vùng đất của một đặc sản nổi tiếng, đã được đưa vào tận kinh đô Huế để tiến vua, đó là bánh phu thê.
Hương vị của bánh ngọt ngào như duyện vợ chồng. Ảnh: Bếp gia đình.  
Đúng như tên gọi của mình (phu thê nghĩa là vợ chồng), món bánh này không lẻ chiếc mà đi theo cặp. Phía sau những lớp là chuối, chiếc bánh hiện ra với lớp vỏ làm bằng bột nếp óng ánh màu vàng tươi. Nhân bánh là đỗ xanh giã nhuyễn, nhào đường, có thể cho thêm dừa.
2. Sâm cầm
Sâm cầm hồ Tây là món ăn nổi tiếng, đã đi vào câu ca dao “Dưa La, húng Láng, ngổ Đầm/Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây" của đất Thăng Long.
Sâm Cầm
Quan niệm dân gian cho rằng loài chim này di trú từ phương Bắc về phương Nam, chúng đào ăn nhân sâm trên đỉnh các núi cao ở Trung Quốc, Hàn Quốc nên được gọi là sâm cầm. Đó là lý do thịt Sâm cầm được cho là một món ăn đại bổ. Đây cũng là một món ăn khoái khẩu của vua Tự Đức.
Tương truyền, làng Nghi Tàm bên hồ Tây được lệnh mỗi năm phải tiến vua 40-50 con chim Sâm cầm, nếu thiếu sẽ bị phạt nặng.
3. Cá Anh Vũ
Nếu Sâm cầm là niềm tự hào của hồ Tây thì cá Anh vũ là thương hiệu bất hủ của ngã ba sông Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ). Với những thớ thịt trắng, quánh và đặc biệt là khối sụn môi giòn sần sật, cá anh vũ được người sành ẩm thực cho là ngon hơn bất kỳ loài cá nào của sông nước. Vì vậy, từ xa xưa, cá anh vũ đã được dùng làm thức tiến ăn tiến vua, được các bộ chính sử ghi lại.
Cá Anh Vũ
Cũng giống như sâm cầm hồ Tây, ngày nay cá Anh vũ đã gần như biến mất tại nơi vùng nước gắn với danh tiếng của mình. Ảnh: Hanoifishing.
4. Chè long nhãn
Chè Long Nhãn
Sau mỗi bữa ăn đầy sơn hào hải vị, vua chúa ngày xưa tráng miệng bằng gì? Một trong những câu trả lời là chè long nhãn hạt sen phố Hiến (Hưng Yên). Nguyên liệu chính của món chè tiến vua này là những quả nhãn lồng phố Hiến, loại nhãn có hương vị thơm quý phái, cùi dầy, ăn giòn, ngọt hơn bất cứ các loại nhãn nào khác.
5. Gà Đông Tảo
Bên cạnh nhãn lồng, đất Hưng Yên còn có một đặc sản tiến vua đặc sắc khác là gà Đông Tảo.
Gà Đông Tảo có thể được nấu thành nhiều món, nhưng độc đáo nhất là món “vảy rồng hầm thuốc bắc” làm từ đôi chân to quá khổ của chúng. Ảnh: 5 giây.
Là giống gà quý chỉ có ở huyện Khoái Châu, gà Đông Tảo còn được gọi là gà chân voi đôi chân to sần sùi như chân voi, thân hình chắc nịch. Giống gà này rất khó nuôi, đòi hỏi phải kỳ công chăm sóc và gà càng già càng quý, thịt ăn thường có mùi vị thơm ngon đặc trưng không lẫn với bất kỳ loại gà nào.
6. Chuối ngự Nam Định
Vẫn còn được trồng chọ đến ngày nay, chuối Ngự cho quả rất nhỏ, khi chín có màu vàng ướm như tơ tằm, mùi thơm ngát, vị ngọt thanh tao đầy quyến rũ... Ảnh: Yume.
Chuối Ngự Nam Định
Tương truyền, vào thời Trần, từ phủ Thiên Trường đến ngoài thành Nam Định, nhiều vùng là quê hương, thái ấp của vua quan nhà Trần. Cảm kích trước tài năng và đức độ của các bậc trị nước, dân thành Nam đã trồng một sản vật quý để dâng vua, đó chính là chuối ngự. 
7. Cốm làng Vòng
Cốm Làng Vòng
Cốm làng Vòng, sản vật đặc trưng của đất Thăng Long đã nổi tiếng từ cách đây 1.000 năm, khi được đưa vào cung tiến vua các triều Lý.
Ngày nay, cứ mỗi mùa thu món ăn chơi làm từ lúa non này lại theo các gánh hàng rong ruổi khắp các phố phường Hà Nội. Cốm Vòng thường được mua về ăn với chuối chín hoặc nấu chè cốm. Đây cũng là nguyên liệu chính của bánh cốm Hàng Than, một món ăn cũng rất đậm chất Hà Nội.
8. Mắm tép Hà Yên
Mắm tép Hà Yên (huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa) là một đặc sản quý và độc đáo ở vùng chiêm trũng xứ Thanh, thời xưa thường được dùng để tiến vua.
Để làm loại mắm này, các chức sắc địa  phải cử người đến tận khe Gia Giã, làng Cổ Đam (vùng Bỉm Sơn bây giờ) để đánh riêng một loại tép quý, là tép riu nhỏ, có mầu trong xanh. Khi nấu nước mắm cũng phải chọn người nấu giỏi nhất vùng. Khi hoàn thành mắm có ánh vàng, sóng sánh như mật ong,
9. Rau muống Linh Chiểu
Trắng nõn và mềm giòn như giá đỗ, hương vị hài hòa, rau muống Linh Chiểu (huyện Phúc Thọ, Hà Nội) thời xưa rất được các bậc vua chúa ưa thích. Bởi vậy, giống rau này còn có tên gọi khác là rau muống tiến vua. 
Để bảo đảm chất lượng, việc chăm sóc rau rất kỳ công và vất vả, đất trồng rau phải nằm sát sông, được hưởng mạch nước sủi trong vắt và phù sa sông Hồng bồi đắp. Do việc chăm sóc phức tạp, hiệu quả kinh tế không cao, ngày nay giống rau đặc sản này đang dần bị mai một.
10. Yến sào
Được làm từ nước dãi của những con chim yến, yến sào (tổ chim yến) là một đặc sản có hương vị rất hấp dẫn và giá trị dinh dưỡng cao. 
Từ thời xưa, yến sào đã được khai thác tại các đảo Yến ở ngoài khơi tỉnh Khánh Hòa để cung tiến các vua chúa.
Ngày nay, cơ hội thưởng thức sản vật này vẫn nằm ngoài khả năng của đa số người dân Việt Nam bởi giá thành của chúng rất cao, từ 50-60 triệu đồng/kg. Phần lớn yến sào khai thác được xuất khẩu để thu ngoại tệ.
(Theo Đất Việt)

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2011

Hà Đông – nơi tập trung các làng dệt nổi tiếng

Người xưa có câu:
“The La, lĩnh Bưởi, chổi Phùng
Lụa vân Vạn Phúc, nhiễu vùng Mỗ bên”.    
Hà Nội và vùng đất ven sông Hồng là nơi có truyền thống trồng dâu nuôi tằm, hình thành những làng dệt nổi tiếng, trong đó tiêu biểu là các làng: Vạn Phúc, La Khê thuộc quận Hà Đông, Hà Nội.
Làng lụa Vạn Phúc
Làng lụa Vạn Phúc hay còn gọi là làng lụa Hà Đông, thuộc phường Vạn Phúc, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 10km về phía tây. Đây là làng nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng và lâu đời nhất Việt Nam. Lụa Vạn Phúc từng được chọn để may quốc phục dưới thời nhà Nguyễn.  
Theo truyền thuyết, khoảng 1.200 năm trước, bà Lã Thị Nga - vợ của tướng quân Cao Biền nhà Đường theo chồng sang cai quản Giao Châu (tên gọi khi đó của Việt Nam). Trong thời gian sống ở Vạn Phúc, bà đã dạy dân cách ươm tơ, dệt lụa. Để ghi nhớ công ơn của bà, dân làng đã tôn bà làm Thành hoàng làng  và thờ tại đình làng Vạn Phúc.  
Làng Vạn Phúc nổi tiếng với nhiều sản phẩm phong phú, đa dạng như gấm, lụa, the, sa, xuyến, băng quế, lĩnh, đoạn, đũi, sa tanh, vải..., đặc biệt là lụa vân, loại lụa mỏng có hoa văn nổi và chìm. Để tạo ra được những sản phẩm tơ lụa tuyệt đẹp, người thợ dệt phải thực hiện một quy trình sản xuất phức tạp bao gồm nhiều khâu như: tơ, hồ sợi, dệt, nhuộm, căng phơi. Hoạt động của làng nghề chủ yếu tập trung vào mùa xuân và mùa hạ.  
Hiện nay, ở làng Vạn Phúc có trên 100 cửa hàng bán lụa tơ tằm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách, hình thành nên ba dãy phố lụa. Với những nét đặc trưng riêng có, Vạn Phúc đã trở thành một điểm đến quen thuộc trong các tour du lịch làng nghề. Đến Vạn Phúc, du khách không chỉ có cơ hội mua sắm các sản phẩm lụa Hà Đông chính hiệu mà còn được chứng kiến quy trình làm ra tấm lụa của các nghệ nhân, đặc biệt là tại xưởng sản xuất của nghệ nhân Triệu Văn Mão bởi chỉ xưởng của ông mới có máy dệt lụa vân – loại lụa cổ truyền nổi tiếng nhất Vạn Phúc đã gần như bị thất truyền. 
Làng La Khê
Làng La Khê là một làng nghề cổ thuộc phường La Khê. Làng nổi tiếng với nghề dệt the lụa, và có tên trong tập "Tứ quý danh hương" (Mỗ - La - Canh - Cót).  
Ban đầu, làng có tên La Ninh ("La" là lụa, "Ninh" là sự thịnh vượng, lâu bền). Sang thế kỷ 15, làng La Ninh đổi tên thành La Khê (tức là làng dệt lụa bên dòng sông nhỏ). Sản phẩm của làng lúc đó vẫn còn thô sơ, chủ yếu là sồi, đũi. Ðến đầu thế kỷ 17, một nhóm người Hoa ở vùng Lưỡng Quảng (Trung Quốc) di cư sang Việt Nam, đến lập nghiệp ở đất La Khê và đem công nghệ dệt tiên tiến dạy lại cho dân làng. Nhờ đó, các sản phẩm dệt của La Khê với những họa tiết, hoa văn tinh xảo, bền và đẹp trở nên nổi tiếng khắp vùng, được các tầng lớp quý tộc ưa chuộng.  
Đến đời vua Minh Mạng (1820 - 1841), viên cai đội mãn hạn lính nhà Nguyễn tên là Trần Quý có một mảnh gấm của nước ngoài được dệt tinh xảo. Ông liền tìm tòi, nghiên cứu và cùng một số người thợ trong làng áp dụng cách dệt gấm vóc. Từ đó, làng La Khê có thêm nghề dệt gấm, Trần Quý thành ông tổ dệt gấm của làng.  
Ngày nay, làng La Khê nổi tiếng với các mặt hàng truyền thống như: the, sa, xuyến, gấm…Các mặt hàng này đều được dệt từ cùng một chất liệu nhưng cách gieo hoa và kiểu dệt thưa, mau, gân, đố khác nhau, tạo ra những sản phẩm phong phú, đa dạng. Những người thợ dệt the La Khê đã sáng tạo ra hơn 20 mẫu hoa văn để dệt thành những tấm vải the hoa, trong đó có những mẫu hoa văn cầu kỳ, với họa tiết cách điệu từ những hình tượng văn hóa dân gian như: "tứ linh" (long, ly, quy, phượng), "tứ quý" (tùng, cúc, trúc, mai) hay hình song hạc, mây trời, hoa sen, chữ thọ...  
Hà Đông từ lâu đã được coi là quê hương của tơ lụa với những sản phẩm độc đáo và kỹ thuật dệt tinh tế. Sự hình thành và phát triển qua hàng nghìn năm của các làng dệt Vạn Phúc, La Khê đã góp phần bảo tồn nét đẹp văn hóa truyền thống đặc sắc của người Việt.
Phạm Phương (TTTTDL)

Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2011

Độc đáo bánh bao mít miền Nam

Xưa nay, mít vẫn được coi là thứ quả ăn rất ngon, ngọt và thơm lừng. Mít có thể dùng để chế biến nhiều món ăn ngon, hấp dẫn như bánh ít mít, xơ mít xào, xơ mít kho cá nục, gỏi mít, cùi mít muối sả ớt, rượu mít, mứt mít… trong đó có món bánh bao mít.

Bánh bao mít (hay còn gọi là món mít hấp) là bánh bao làm bằng múi mít thường chỉ có ở những vùng quê miền Nam và được xem là món ăn dân dã, cây nhà lá vườn. Bánh bao mít không giống như những loại bánh bao làm bằng bột mì mà ta thường thấy ở phố, có thể coi nó là món ăn đặc sản và làm công phu.

Làm bánh bao mít nên dùng mít ướt (mít mật) vì mít ướt có cùi mỏng hơn, chứa được nhiều nhân và khi hấp sẽ mọng, nhanh chín và bóng hơn mít dai. Lựa lấy một trái mít chín tới, có múi to, lấy dao cắt cho khéo dưới chỗ có hột của mỗi mút mít để lấy hột ra, giữ múi mít không bị rách.
Nhân bánh bao mít có thể làm bằng thịt, cá (nhân mặn) hoặc làm từ hột mít trộn với đậu xanh (nhân chay). Nếu làm nhân mặn thì dùng thịt cá quết nhuyễn với một ít thịt heo, nước mắm ngon, hành củ, tiêu bột, bột ngọt. Khi nhân đã chuẩn bị hoàn tất, vo nhân từng miếng nhỏ cho vào trong các múi mít. Khi nhân đã đầy ruột mít, ta dùng dây gài kín chỗ nhồi nhân.

Để làm bánh mít chay thì lấy hột mít đem luộc chín, giã nát và trộn với đậu xanh đã được đãi vỏ nấu chín tán nhừ. Dừa nạo vắt nước cốt thắng với đường cho sền sệt, nêm chút muối, rồi đem trộn với hỗn hợp đậu xanh hột mít tán nhừ.

Khi hỗn hợp nguội hẳn, vo thành viên làm nhân, cho vào mỗi mút mít. Xong, đem hấp độ nửa giờ khi nhân mít chín và có mùi thơm lừng thì tắt bếp và lấy mít rồi sắp ra đĩa, chấm với tương.

Bánh bao mít nhân cá, thịt heo vừa béo, bùi, dai, cay... đủ mùi vị phối hợp lại thêm mùi vị ngọt thơm rất riêng của mít. Bánh bao mít chay thì thơm mùi thơm của đậu xanh, nước cốt dừa kết hợp với vị bùi và béo của hột mít, vị ngọt của đường thật hấp dẫn. Nếu ai đã từng một lần thưởng thức sẽ không thể nào quên được hương vị độc đáo của món ăn dân dã này.
Nguồn: Lao Động

Bài đăng Phổ biến