Hiển thị các bài đăng có nhãn NHỮNG ĐIỀU BẠN CHƯA BIẾT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NHỮNG ĐIỀU BẠN CHƯA BIẾT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2016

KHÁM PHÁ ĐẢO ĐIỆP SƠN – CHINH PHỤC CON ĐƯỜNG ĐI BỘ XUYÊN BIỂN - TRẢI NGHIỆM CUỘC SỐNG NGƯ DÂN

Đảo Điệp Sơn hoang sơ, quyến rũ với con đường đi bộ giữa biển dài 700m độc đáo nhất Việt Nam. Quý khách sẽ rất ngạc nhiên và thích thú bởi thiên nhiên, mát rượi của biển xanh, cát trắng nơi đây - một nét đẹp hoang sơ mà không phải nơi nào cũng có được. Bên cạnh đó người dân nơi đây rất hiền hòa và hiếu khách chắc chắn sẽ để lại trong lòng mỗi du khách những trải nghiệm khó quên…
CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH
KHÁM PHÁ ĐẢO ĐIỆP SƠN – TRẢI NGHIỆM CUỘC SỐNG NGƯ DÂN
Thời gian: 1 Ngày 1 Đêm
Phương tiện: Xe du lịch + tàu
Khởi hành: Hàng ngày

NGÀY 01:      NHA TRANG – ĐẢO ĐIỆP SƠN – ĐI BỘ XUYÊN BIỂN     (Ăn 2 bữa)                 
06h00: Xe và hướng dẫn viên du lịch Giang Nam đón quý khách tại Nha Trang khởi hành đi Vạn Giã. Trên đường đi đoàn tham quan tìm hiểu những địa danh nổi tiếng một thời của Khánh Hòa như: Đèo Rọ Tượng, Đèo Bánh Ít, Dốc Thị,….
08h30: Đến Vạn Giã, quý khách lên tàu khởi hành đi đảo Điệp Sơn. Với hành trình gần 1 giờ lênh đênh trên biển, quý khách được ngắm nhìn và chụp hình Vịnh Vân Phong đẹp mơ màng cho bạn cảm giác như đang đi giữa vịnh Hạ Long. Bạn có thể thỏa thích ngắm nhìn những đàn cá nhỏ tung tăng bơi lội hai bên, chốc chốc lại thấy những đàn cá nhảy tung lên khỏi mặt nước, hay giơ tay vẫy chào con thuyền đang chạy lướt qua…
09h30: Tàu cập bến đảo Điệp Sơn, Đoàn tham quan chụp ảnh cầu cảng Điệp Sơn, đình Điệp Sơn, bãi Cồn, Hòn Bịp, Núi Điệp Sơn cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên, thích thú với những cánh đồng cỏ lau tuyệt đẹp…. Đoàn khởi hành tham quan làng Điệp Sơn với gần 100 hộ dân nằm lẩn khuất dưới những rặng dừa cao lớn với hàng trăm  năm tuổi.
11h00: Đoàn ghé HomeStay nghỉ ngơi, ngắm biển, dùng cơm trưa với hải sản địa phương như: mực lá hấp, canh chua cá biển, cá biển chiên, ghẹ hấp…. (thực đơn theo mùa)
14h00: Đoàn khởi hành khám phá Hòn Giữa, chinh phục con đường đi bộ xuyên biển dài 700m độc đáo nhất Việt Nam. Cảm nhận con đường uốn lượn, rộng khoảng 1 mét và nằm dưới mặt nước biển trong xanh chưa đến nửa mét...một cảm giác thích thú đến lạ kỳ...hồi hộp, một chút lo sợ nước dâng lên...nhưng lại rất đáng để thử. Quý khách tự do khám phá, tắm biển, chụp hình, mò cua bắt ốc, vui đùa bên làn nước trong xanh theo cách riêng của mình. Có thể thưởng thức hải sản, đặc sản tại chợ Điệp Sơn. Có thể chèo thuyền thúng, tập kéo lưới, bẫy ghẹ, câu cá,.... trải nghiệm cuộc sống dân dã của ngư dân nghèo tại xã đảo
17h00: Quý khách ăn tối tại HomeStay, thưởng thức hải sản địa phương.
18h00: Tham gia chương trình bắt còng biển, hến, ốc, sò,... Sau đó thưởng thức thành quả của mình bên bếp lửa hồng. Với không gian thoáng đãng cùng không khí trong lành mát dịu, những câu chuyện vui và ly rượu nồng sẽ mang lại những trải nghiệm tuyệt vời cho du khách. Quý khách có thể đăng ký đi câu mực đêm cùng với người dân địa phương. Nghỉ đêm tại Homestay.

NGÀY 02:                      LÀNG CHÀI ĐIỆP SƠN – NHA TRANG                   (Ăn sáng)                
06h00: Đoàn dùng điểm tâm sáng tại chợ Điệp Sơn. Sau đó tự do tắm biển, dạo biển, ngắm bình minh. Trải nghiệm cuộc sống của ngư dân trên đảo với công việc kéo lưới, đặt lờ ghẹ, đặt lờ mực, lặn biển bắt ốc, mò cua,.....
08h30: Làm thủ tục khởi hành về đất liền.
09h30: Về tới cảng Vạn Giã, đoàn lên xe khởi hành về Nha Trang.
11h00: Về tới Nha Trang, xe đưa đoàn về lại điểm đón khách ban đầu. Kết thúc chương trình tham quan, chia tay và hẹn gặp lại quý khách!

GIÁ TOUR TRỌN GÓI CHO 01 KHÁCH: 790.000 VNĐ
(Áp dụng cho đoàn từ 10 khách)
GIÁ TOUR BAO GỒM:
-  Xe máy lạnh đời mới đưa đón theo chương trình tham quan.
-  Tàu tham quan đảo
-  Lưu trú: Ngủ đêm tại Homestay (Nhà người dân trên đảo)
-  Ăn uống theo chương trình (2 bữa chính, 1 bữa sáng)
-  HDV thuyết minh và phục vụ cho quý khách suốt tuyến.
-  Vé vào các điểm tham quan theo chương trình
-  Quà tặng: khăn lạnh, nước suối.
GIÁ TOUR KHÔNG BAO GỒM:
o   Ăn uống ngoài chương trình, điện thoại, và các chi phí vui chơi giải trí cá nhân khác.
o   Thuế VAT.
LƯU Ý:
-  Điệp Sơn là đảo nghèo còn giữ nguyên nét hoang sơ vốn có của nó, chưa hoạt động khai thác khách du lịch, không có bất cứ dịch vụ tiện ích nào trên đảo nên quý khách cân nhắc kỹ khi đăng ký tour
-  Đây là tour chinh phục, khám phá và trải nghiệm nên quý khách phải thật sự đảm bảo sức khỏe khi tham gia tour
-  Tự trang bị: kem chống nắng, nón rộng vành, đồ tắm,….


Thông tin để đặt tour:
CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI DU LỊCH GIANG NAM – CN NINH HÒA
Địa chỉ: Quốc Lộ 1A - Ngã 3 Ngoài - P. Ninh Đa - Ninh Hòa - Khánh Hòa
Điện thoại: 058 3845 408 – Fax: 058 3845 308 – Hotline: 0909 937 492

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2016

KHÁM PHÁ CON ĐƯỜNG ĐI BỘ GIỮA BIỂN ĐỘC ĐÁO TẠI ĐẢO ĐIỆP SƠN


Đảo Điệp Sơn hoang sơ, quyến rũ với con đường đi bộ giữa biển dài 700m độc đáo tại Việt Nam

Không chỉ tạo nên dấu ấn là hòn đảo có đường bộ dài bắt ngang qua đại dương mà nơi đây còn làm nao núng lòng người, khiến ta có cảm giác yêu biển như thể yêu một ai đó, không ồn ào không mãnh liệt nhưng lại làm người ta nhớ mãi...

Không chỉ là điểm du lịch luôn làm mới cảm nhận của du khách của những tay phượt mê biển, mà Khánh Hòa còn là thiên đường biết "chiều lòng" du khách với những điểm đến mới toanh và Điệp Sơn chính là "địa điểm vàng" hứa hẹn soán ngôi vùng biển tứ bình nổi tiếng: Bình Ba - Bình Hưng - Bình Lập - Bình Tiên.


Tổng quan quần đảo Điệp Sơn nhìn từ trên cao xuống như một dải lụa uốn khúc, quanh co, tạo nên một vẻ đẹp độc đáo của riêng nơi này
Đến với Điệp Sơn bạn sẽ được chiêm ngưỡng con đường mòn giữa biển độc đáo và dài nhất Việt Nam với chiều dài gần 700 mét và nằm dưới mặt nước biển gần nửa mét,nối liền hòn đảo giữa với đảo Điệp Sơn lớn - đó cũng chính là điển đặc biệt của quần đảo này



Điệp Sơn là một quần đảo còn xa lạ với nhiều người, nơi đây vẫn còn giữ nét đẹp hoang sơ, trong xanh của biển, người dân thì rất hiền hòa, hiếu khách. Bao gồm một dãy gồm 3 hòn đảo nhỏ thuộc vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa. Nằm cách Thị trấn Vạn Giã khoảng khoảng 1 giờ di chuyển bằng ghe, tàu.

Đi


Để đến Điệp Sơn, từ thành phố Nha Trang, bạn có thể đi xe máy hoặc bus đến thị trấn Vạn Giã. Sau đó từ đi ghe (tàu máy nhỏ) từ thị trấn Vạn Giã, ghe chạy tầm 40 phút là ra đến đảo (Đi tàu chợ Phượng Đồng của người dân thường xuất phát từ 9h sáng, vé là 20k/người, hoặc đi ghe lớn ra đảo Điệp Sơn với phí khá cao 150k/người nhưng di chuyển qua đảo chỉ mất 15p).

Chơi



Khám phá một vòng quanh các đảo, du khách sẽ trầm trồ trước vẻ đẹp của những bãi biển hoang sơ cát trắng, nước biển trong xanh, và những cánh đồng cỏ lau tuyệt đẹp. Ảnh: Phan Lộc



Qua đến đảo, điều khiến bạn ngạc nhiên nhất đó chính là thiên nhiên trong lành, mát rượi của biển xanh, cát trắng - một nét đẹp hoang sơ mà không phải nơi nào cũng có được và đặc biệt, đảo Điệp Sơn cũng là nơi để bạn khám phá con đường đi giữa lòng biển độc đáo bậc nhất Việt Nam.


Buổi sáng, tầm 6h sáng, khi thủy triều hạ xuống con đường cát chạy thẳng ra lòng biển sẽ xuất hiện. Bạn chỉ việc xoắn quần lên, mem theo con đường mòn trên biển kéo dài gần 700 mét, nối liền hòn đảo giữa với đảo Điệp Sơn lớn. Cảm nhận con đường uốn lượn, rộng khoảng 1 mét và nằm sâu dưới mặt nước biển trong xanh chưa đến nửa mét...một cảm giác thích thú đến lạ kỳ...hồi hộp, một chút lo sợ nước dâng lên...nhưng lại rất đáng để thử.

Buổi tối ở đây, có thể cùng bạn bè đi bắt còng biển, hến, ốc, sò...

Con đường dưới biển độc đáo, uốn lượn, đưa bạn đến hòn đảo giữa trong quần đảo Điệp Sơn.
Ngư dân sinh sống chủ yếu nhờ vào nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản: Ngành nghề nuôi tôm Hùm, Ngọc trai… Cuộc sống còn khó khăn, trẻ em đến trường, đến lớp còn hạn chế. Nên Điệp Sơn cũng là vùng đảo khó khăn được nhiều tổ chức, bạn trẻ tình nguyện đến và giúp đỡ...



Ăn

Nếu ghé đảo Điệp Sơn vào buổi sáng thì có thể thưởng thức các món ngon như bánh canh, cháo, bánh mì, bánh xèo...còn các buổi ăn khác trong ngày thì cũng không khó để thưởng thức.



Bạn có thể ghé buổi họp chợ dọc bờ biển, mua hải sản do ngư dân làng chài đánh bắt như mực, cá, tôm, và cả cua biển tươi sống...nhờ chế biến và tổ chức BBQ hải sản nướng cùng bạn bè ngay trên bờ biển hoặc có thể ăn tại nhà dân với những con người cực kỳ hiếu khách tại làng chài Điệp Sơn.
Ngủ



Hiện tại đảo Điệp Sơn không có bất cứ dịch vụ du lịch nào cả, kể cả nhà nghỉ. Vì thế, bạn phải mang theo lều hoặc bạn phải xin ngủ ké ở nhà dân.
Lưu ý: trang bị thêm đèn pin, sạc dự phòng của thiết bị công nghệ do ở đây chỉ có điện từ 18h00 -21h00 hàng ngày.



Chi phí tham khảo:
Ăn: 50k – 80k/ ngày
Ngủ: 100k/ người
Vé tàu khứ hồi: từ 40k/ người
Tiệc BBQ: 100k/ người
Minh Thư tổng hợp 
Theo Tinzon (H/ả: dulichdaodiepson, fb Đảo Điệp Sơn)
Thông tin để đặt tour:
CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI DU LỊCH GIANG NAM – CN NINH HÒA
Địa chỉ: Quốc Lộ 1A - Ngã 3 Ngoài - P. Ninh Đa - Ninh Hòa - Khánh Hòa
Điện thoại: 058 3845 408 – Fax: 058 3845 308 – Hotline: 0909 937 492

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2011

Huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển

Cùng với đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh trên Biển Đông là tuyến chi viện chiến lược đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra một trang sử vẻ vang mới cho dân tộc Việt Nam.


Tượng đài “Bến Tàu không số” ở thung lũng Xanh dưới chân đồi Nghinh Phong – Đồ Sơn, Hải Phòng

Trước tình hình địch đẩy mạnh chiến tranh, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp và ra Nghị quyết về “nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam”. Ngày 23/10/1961, theo Chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã quyết định thành lập Đoàn 759, tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải quân (với tên gọi “Đoàn tàu không số”) để vận chuyển vũ khí, trang bị cho chiến trường miền Nam bằng đường biển.


Gọi là "tàu không số" nhưng thật ra các tàu đều có số hiệu tại đơn vị, chỉ khi tiến hành thâm nhập vào miền Nam để tiếp tế vũ khí, đến hải phận nào thì sẽ thay biển số của nơi đó.

Ngày 8/4/1962, chuyến tàu đi trinh sát và mang chỉ thị của Trung ương về “Mở đường vận chuyển chiến lược trên biển” do đồng chí Bông Văn Dĩa chỉ huy đã đến miền Nam. Bắt đầu từ đây, xuất hiện những con tàu không số lúc ẩn lúc hiện, tiếp tế vũ khí cho miền Nam.

Ngày 11/10/1962, chiếc tàu gỗ gắn máy không số đầu tiên mang tên Phương Đông 1 chở vũ khí dưới quyền chỉ huy của đồng chí Lê Văn Một và Bông Văn Dĩa rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng), đến ngày 16/10 tàu cập bến Vàm Lũng (Cà Mau) an toàn, khai thông tuyến đường vận chuyển vũ khí trên biển nối liền hai miền Nam-Bắc.

 Di tích lịch sử quốc gia - Tàu không số Vũng Rô – Phú Yên


Khai thông con đường đã khó, việc giữ bí mật con đường càng khó khăn hơn, bởi phải trải qua chặng hành trình trong khu vực biển địch kiểm soát, tàu địch lùng sục gắt gao. Để thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng mở đường vận chuyển chi viện cho đồng bào miền Nam, các chiến sĩ hải quân đã phải dày công nghiên cứu, đấu trí, đấu sức tìm ra phương thức vận chuyển độc đáo. Từ ngày đầu bằng những phương tiện thô sơ thuyền gỗ gắn máy, trọng tải nhỏ, đi dọc theo ven biển, đã phát triển lên các đội tàu sắt, có trọng tải hàng trăm tấn, vươn rộng ra biển. Địch phong tỏa gần bờ, các chiến sĩ hải quân đi trên vùng biển xa; địch phong tỏa đường biển dài, ta đi phân đoạn, đồng thời khéo léo ngụy trang, nghi binh, bí mật thọc sâu vào bến nhanh chóng và bất ngờ, khi thời cơ đến thì tập trung toàn lực, dốc sức cho nhiệm vụ vận chuyển chi viện chiến trường. 



Công trình Khu di tích lịch sử Tàu không số Vũng Rô - dự án phục vụ kỷ niệm Phú Yên 400 năm gắn với Năm Du lịch quốc gia duyên hải Nam Trung Bộ - Phú Yên 2011
Với 6 chiếc thuyền gỗ thô sơ ban đầu  đưa từ miền Nam ra và 38 cán bộ, chiến sĩ làm nòng cốt trong ngày đầu thành lập, trong 14 năm thực hiện nhiệm vụ trên con đường biển mang tên Bác, lực lượng vận tải biển của hải quân đã phát triển thành một binh đoàn vận tải chiến lược trên biển, hình thành nhiều tuyến, mở hàng chục bến bãi khắp các tỉnh ven biển miền Nam, len lỏi vào chiến trường khu 5 khốc liệt, đến tận cửa ngõ Sài Gòn vận chuyển vũ khí chi viện cho tiền tuyến đánh giặc.

14 năm ấy, những con đường, các bến bãi đều nằm trong các vùng kìm kẹp, lùng sục, truy quét, vây ráp, đánh phá ác liệt suốt đêm ngày của địch. Mỗi chuyến đi là một cuộc đấu trí căng thẳng, quyết liệt với kẻ thù, với thiên nhiên, với mọi khó khăn, thử thách, ra đi là xác định cảm tử. Từ năm 1961 đến 1975, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 125 vượt qua hơn 20 cơn bão lớn, vượt qua hàng trăm cuộc vây ráp của kẻ thù, huy động được gần 2000 lượt chiếc tàu, đi gần 4 triệu hải lý, vận chuyển gần 8 vạn lượt người, trên 15 vạn tấn vũ khí, đạn dược và hàng vạn tấn hàng hóa, góp phần chi viện đắc lực cho nhiều hướng chiến trường, nhiều chiến dịch lớn, nhiều địa bàn trọng yếu mà đường bộ chưa với tới được. Hành trình của những “con tàu không số" trên biển đã đến bao nhiêu bến, bãi dọc bờ biển Việt Nam, có sự đóng góp công lao to lớn của Đảng bộ và nhân dân các tỉnh ven biển: Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre...

Đài kỷ niệm những con tàu không số tại ngã ba Thạnh Phong, Thạnh Phú, Bến Tre
Đường Hồ Chí Minh trên Biển Đông là biểu hiện sinh động của tinh thần đoàn kết quân dân, giữa cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam với nhân dân các địa phương ven biển. Chiến công anh hùng của các chiến sĩ hải quân là thể hiện trình độ tác chiến chỉ huy hiệp đồng chặt chẽ của các lực lượng và các cơ quan tham mưu, chính trị, kỹ thuật, hậu cần theo một hệ thống đảm bảo, hệ thống thông tin vô tuyến điện và tín hiệu thông suốt từ Sở chỉ huy đến từng con tàu hành trình trên biển và lực lượng ở các bến bãi.


Nhà trưng bày Di tích Đường Hồ Chí Minh trên biển – Bến Vàm Lũng (Cà Mau)


Đoàn 125 Hải quân với tên gọi "Đoàn tàu không số" là lực lượng trực tiếp vận chuyển trên con đường biển mang tên Bác đã 2 lần được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu "Đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân", xây đắp nên truyền thống vẻ vang "Mưu trí dũng cảm, khắc phục khó khăn, vận tải đường biển, chi viện chiến trường, quyết chiến quyết thắng". Ngày 23/10 hằng năm trở thành ngày truyền thống mở “Đường Hồ Chí Minh trên biển” và thành lập Lữ đoàn 125 Hải quân.
Ngày nay những ai có dịp đến Đồ Sơn (Hải Phòng) đều có thể thăm di tích cảng quân sự bí mật K15 đánh dấu cột mốc Hải lý đầu tiên của đường Hồ Chí Minh trên biển, với tượng đài “Bến Tàu không số” ở thung lũng Xanh dưới chân đồi Nghinh Phong. Giữa màu xanh của núi đồi Đồ Sơn trong tiếng rì rào của sóng biển, di tích K 15 là biểu tượng anh hùng ca ngợi lòng quả cảm, sẵn sàng  chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc của cán bộ chiến sỹ trên những con tàu không số năm xưa.
Tượng đài tưởng niệm Đoàn tàu không số ở Ngọc Hiển, Cà Mau
Tại Cà Mau – đích đến của các đoàn tàu không số, tượng đài chiến thắng Đường Hồ Chí Minh trên biển đã được xây dựng tại bến Vàm Lũng, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển. Tượng đài chính cao hơn 10m, khắc họa lại hình ảnh con tàu không số vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam trên đường Hồ Chí Minh trên biển phục vụ chiến trường miền Nam, với những chiến sĩ bộ đội vững chắc tay lái cập bến Vàm Lũng (Ngọc Hiển - Cà Mau). Hai bức phù điêu hai bên tượng đài chính mô phỏng hình dáng hai con tàu đang vượt sóng, với những họa tiết minh họa các hoạt động bốc xếp vũ khí xuống xuồng ba lá, chuyển đến chiến trường, có sự hỗ trợ, tiếp sức của đồng bào và tái hiện lại những trận đánh tàu giặc oanh liệt của Đoàn 125, những chiến thắng vang dội trên khắp chiến trường Nam bộ. Ngoài ra, khu tượng đài còn có nhà trưng bày truyền thống lịch sử để du khách tìm hiểu về con đường huyền thoại này.

Đường Hồ Chí Minh trên biển đã đi vào lịch sử, những bến tàu trên tuyến đường này như bến tàu không số K15 Đồ Sơn (Hải Phòng), bến tàu không số Lộc An (Bà Rịa – Vũng Tàu), bến tàu không số Vũng Rô (Phú Yên), bến Vàm Lũng (Cà Mau) đã trở thành những khu di tích lịch sử thu hút nhiều du khách và một số nơi đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích lịch sử Quốc gia.

Phương Anh (Tổng hợp)

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2011

Mỹ nữ khổng lồ 'tắm tiên' ở Đức

Một bức tượng khổng lồ hình mỹ nữ khỏa thân ngồi trong nước hồ Alster, thành phố Hamburg, Đức, vừa ra mắt công chúng.
Tác giả của bức tượng đặc biệt này là ông Oliver Voss, một nghệ sĩ, đồng thời là giám đốc một công   ty quảng cáo của Đức. Tượng được làm từ thép, cao 4 m, đặt ngay giữa hồ Alster ở trung tâm thành phố Hamburg, Đức. Ảnh: AFP
Bức tượng gồm 3 mảnh ghép rời, mô phỏng hình ảnh một mỹ nữ đang tắm trong hồ và có tên là "Người đẹp tắm". Ảnh: AP

Việc lắp đặt bức tượng đã bị trì hoãn hai ngày so với dự kiến vì vấn đề kỹ thuật, tuy nhiên hiện giờ các nghệ sĩ cho biết sẽ tiếp tục trưng bày nó thêm ít nhất một tuần nữa. Ảnh: China Daily.
Ông Marcia Kilgore, chủ công ty mỹ phẩm Soap & Glory, đồng thời là nhà tài trợ cho bức tượng   này đang dạo trên thuyền để ngắm nhìn sản phẩm. Ảnh: China Daily.
Hình ảnh của mỹ nữ với mái tóc vàng và hai đầu gối nổi lên trên mặt hồ Alster đã tạo ra nhiều phản   ứng khác nhau từ khi được công bố đến nay. Tác phẩm này cũng gặp phải một số rào cản từ phía chính quyền địa phương trước khi được ra mắt. Một vài du khách cho rằng nó không cần thiết, trong khi số khác nghĩ nó mang một thông   điệp môi trường. "Giống như cô gái tóc vàng đó, một ngày nào đó chúng tôi lại có thể bơi trong hồ Alster", một du khách nói. Ảnh:China Daily.
Oliver Voss cho biết bức tượng này không mang ý nghĩa khiêu khích, nó chỉ khuyến khích mọi người thưởng thức hồ Alster theo một cách mới. Mỹ nữ khổng lồ cũng mang hàm ý ca ngợi Hamburg như một trung tâm của những ngành công nghiệp sáng tạo. Ảnh: travel.aol.co.uk.
Bức tượng sẽ được trưng bày từ ngày 3-12/8 tới. Ảnh: China Daily.
Anh Ngọc

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

Câu chuyện về lông đuôi voi

Voi là động vật tuy có thân hình to lớn nhưng nó vẫn duyên dáng, đáng yêu nhờ những bộ phận đặc biệt trên cơ thể như cặp ngà, cái vòi, đôi tai hay là cái đuôi. Nếu cái ngà, cái vòi là vũ khí để đánh nhau, để voi lấy thức ăn nuôi cơ thể thì cái đuôi nhỏ nhoi là bộ phận giúp voi trong đấu tranh sinh tồn.
Cái đuôi cũng góp phần cho con voi chống chọi với những khắc nghiệt của thiên nhiên, môi trường để tồn tại. Cái đuôi phe phẩy ở phía sau để giúp voi xua đuổi côn trùng như ruồi, muỗi và giúp quạt mát trong lúc nóng nực. Mỗi con voi thường có chiếc đuôi rất đẹp với sợi lông to dày, bóng mượt. Càng về phía đuôi thì bộ lông càng dày rậm. Lông đuôi mọc ra theo kiểu đối xứng hai bên, giống như rẻ quạt. Trong tự nhiên, hiếm khi voi bị cụt đuôi. Tuy nhiên, cánh thợ săn cũng đôi lần cũng bắt được những chú voi cụt đuôi. Năm 1995, thợ săn voi ở xã Ea Wel (Buôn Đôn) bắt được một chú voi cụt đuôi và đặt tên là Na Cut sau khi làm lễ cúng voi nhập buôn cho nó. Chú voi lớn lên với chiếc đuôi cụt ngủn nhưng khỏe mạnh, ngoan hiền.
Lông đuôi voi.

Ngày nay, trong đàn voi nhà ở Dak Lak xuất hiện nhiều chú voi cụt đuôi không phải vì lý do tự nhiên như Na Cut mà bị kẻ xấu chặt trộm lấy lông đuôi. Người ta cần lông đuôi voi để làm gì? Xưa kia, theo quan niệm của một số người, lông đuôi voi không những giúp tránh được tà ma chướng khí, thú dữ mà còn giúp chủ nhân của nó có khả năng biết trước những khó khăn, trở ngại trên đường đi để có cách đề phòng. Nghe nói mỗi lần các quan trong triều đình khi đi công cán xa, đến những vùng đất lạ đầy chướng khí, phải vượt núi xuyên rừng thường mang lông đuôi voi bên mình như một thứ bùa hộ mệnh. Thời đó, từ chốn triều đình đến phủ, lỵ, voi không thiếu nên việc tìm chiếc lông đuôi voi không phải là chuyện khó. Sách sử còn ghi rõ voi của dân, của các bộ tộc miền núi liên tục tiến cống cho triều đình rồi từ triều đình phân bổ về cho các địa phương làm nhiệm vụ quốc phòng.
Đối với người M’nông, lông đuôi voi không những đem lại sự may mắn mà còn tượng trưng cho sự chung thủy. Chuyện xưa kể rằng, ngày xưa có đôi trai gái làng yêu thương nhau đắm say nhưng bị ngăn cản bởi mâu thuẫn giữa hai làng nên họ không lấy nhau được. Chàng trai liền nhờ đến vị thần to lớn nhất ở Tây Nguyên là thần Nguăch ngual (Thần Voi) giúp đỡ để hai người nên nghĩa vợ chồng bởi đồng bào thấy loài voi rất thuỷ chung với nhau. Khi một đôi voi nào đó đã “kết duyên” với nhau thì chúng không muốn xa rời và luôn quấn quít bên nhau. Chuyện lông đuôi voi nối kết tình duyên thực ra chỉ là cách mà đồng bào đưa ra để động viên tinh thần, để những người yêu nhau cùng tin vào hạnh phúc, may mắn. Khi con người cùng tin và có một niềm tin lớn lao (rằng họ được Thần Voi bảo vệ) thì họ có thể dũng cảm vượt qua được những khó khăn bằng chính nghị lực của mình. Đó là niềm tin mang tính tâm linh mà chỉ còn nghe trong các câu chuyện quá khứ.
Voi Na Cut cụt đuôi đang được thuần dưỡng.
Với tình thương yêu dành cho con vật mang lại lợi ích cho mình nhiều nhất, người M’nông luôn chăm sóc, bảo vệ con voi hết mực, hiếm khi họ nhổ lông đuôi voi để bán chác, trao đổi kiếm tiền. Luật tục M’nông quy định: ai nhổ trộm lông đuôi voi phải đền một con heo, mấy ché rượu; ngoài ra phải đền tiền tùy theo mức chủ voi đưa ra có thể từ vài trăm đến cả triệu đồng. Sợi lông đuôi voi bị nhổ trộm sẽ bị đốt trong lễ cúng tạ lỗi với thần Nguăch Ngual. Mặc dù luật tục của đồng bào khắt khe đến vậy nhưng kẻ xấu vẫn bất chấp, chúng không thèm nhổ trộm vài chiếc lông mà liều lĩnh chặt cả cái đuôi của con voi để bán lấy được nhiều tiền hơn. Người ta tin rằng dùng lông voi để xỉa răng hoặc đốt lên lấy muội nhét vào chỗ răng sâu sẽ hết đau nhức. Đặc biệt, lông đuôi voi như là thứ nguyên liệu tinh túy để sản xuất hàng lưu niệm độc nhất vô nhị, chỉ có ở các khu du lịch được mệnh danh là “xứ sở của loài voi, quê hương của những người săn bắt và thuần dưỡng voi rừng” như nhẫn, còng bằng vàng, bằng bạc với lời đồn thổi rằng chúng có linh nghiệm trong việc trừ tà và mang lại may mắn cho ai đeo nó. Khi đến các quầy hàng lưu niệm ở Tây Nguyên, không khó để tìm những mặt hàng gắn lông đuôi voi, có nơi bày bán nguyên cả chiếc đuôi voi. Một sợi lông ngắn như cái tăm cũng có giá vài trăm nghìn đồng. Sợi càng dài giá càng cao, có khi lên đến cả nửa triệu đồng. Những sợi lông đuôi có màu trắng giá cao gấp đôi so với lông màu đen. Do nhu cầu tiêu thụ lông đuôi voi ngày càng cao, người ta phải sang tận Campuchia, Lào để lùng mua. Lúc khan hiếm thứ nguyên liệu này, kẻ săn lông đuôi voi rình lúc voi nhà được thả rông thì xông ra vặt hoặc chặt trộm. Những con voi ở Buôn Đôn, Ea Súp chính là nạn nhân của vụ chặt trộm đuôi lấy lông. Chúng bị bắn, bị giết, đốt cháy gây trọng thương, tiêu biểu là vụ tàn sát voi Pak Cú tại khu vực thác Bảy Nhánh, huyện Buôn Đôn vào năm 2010 và gần đây nhất là voi Pak Khăm tại Đà Lạt, làm tổn hại cho đàn voi nhà và gây thiệt hại không nhỏ cho các chủ voi.
Việc chặt trộm đuôi đã làm tổn thương đến sức khỏe và làm ảnh hưởng đến số lượng đàn voi nhà. Chiếc đuôi không còn nữa khiến cho vẻ đẹp và sự hùng dũng của voi cũng mất đi. Mặc dù tình hình nguy hại như vậy nhưng việc tiêu thụ, tàng trữ lông đuôi voi, nhẫn gắn đuôi voi vẫn cứ tiếp diễn ở một số điểm tham quan du lịch tại Buôn Đôn. Du khách đến tham quan nơi đây vẫn hỏi tìm mua lông đuôi voi, nhẫn gắn lông đuôi voi vì hiếu kỳ hoặc vì niềm tin hoang đường vào thần may mắn. Điều này chẳng khác nào họ tiếp tay cho kẻ xấu làm những điều phi pháp, bất chấp sự lên án của dư luận và cộng đồng.
Những con voi bị giết hại ở một số tỉnh, thành trong thời gian vừa qua đã gióng lên hồi chuông về ý thức, về chiến lược bảo tồn voi, kêu gọi những người có trách nhiệm đề cao cảnh giác, tăng cường bảo vệ để không bị mất thêm một con voi nào nữa.
Tấn Vịnh - Annie Eagle

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

THỰC HƯ VỀ NHỮNG ÔNG VUA KHÔNG NGAI Ở TÂY NGUYÊN


Ở Tây nguyên thực ra có đến 3 ông vua không ngai là vua gió, vua nước và vua lửa. Ông vua gió và vua nước nghe đồn là ở huyện Chư Sê, Gia Lai nhưng đã chết từ đời nảo đời nào, chỉ nghe nói chứ chả gặp bao giờ. Còn Hoả xá chính là Vua lửa Siu Luynh đời thứ 14 vừa băng hà tại quê nhà, làng Ơi, xã Chư A Thai, huyện A Yun Pa, tỉnh Gia Lai cách đây 6 năm. Tức là trước ông Siu Luynh này đã có 13 đời Hoả xá (Vua lửa) cùng trong dòng họ Siu, và cũng chỉ ở Chư A Thai, A Yun pa.
             Trong “Phủ biên tạp lục”, Lê Quý Đôn ghi: “Nước ấy có chừng hơn 50 thôn, trong nước có núi Bà Nam rất cao lớn, là trấn sơn một phương, Thuỷ Vương ở phía Đông núi, Hoả Vương ở phía Tây núi, đều có địa phận riêng, gác cây làm nhà, bộ thuộc đều vài trăm người, cày bằng dao, trồng bằng lửa, tháng giêng reo, tháng năm lúa chín, không gặt mà chỉ tuốt, không biết ngày tháng. Vua cưỡi voi, đi theo độ hơn mười người. Đến một thôn Man nào đánh ba hồi chiêng, người trong thôn đều ra, làm nhà tranh cho vua ở”...  Còn trong “Đại nam liệt truyện” sơ tập 931 thì viết: “Nước Thuỷ xá và nước Hoả xá, hai nước này ở trên đất Nam Bàn, có độ hơn 50 thôn. Cứ 5 năm một lần, chúa Nguyễn sai người đến nước ấy, mang cho các đồ vật như áo gấm, mũ, nồi đồng, chảo sắt và bát đĩa, các thứ đồ gốm... Hai nước nhận được các thứ cho ấy, tức khắc sắm sửa các thứ sản vật địa phương như kỳ nam, sáp ong, nhung hươu, mật gấu, voi đực... để dâng hiến lại”... Sách này chép tiếp: “Hai nước tuy nay có vua mà không có binh lính và thành quách; cày lấy mà ăn, dệt lấy mà mặc... chỉ nên ra là nhờ dựa vào thần quyền mà dân chúng suy tôn. Mán dân thờ phụng như thần thiêng vậy. Còn như cái quyền sinh sát, việc tranh đấu đều do sách trưởng (có thể là tù trưởng hoặc tương đương thế- TG) nắm cả, vua thực không dự đến”.
            Ở Tây nguyên thực ra có đến 3 ông vua không ngai là vua gió, vua nước và vua lửa. Ông vua gió và vua nước nghe đồn là ở huyện Chư Sê, Gia Lai nhưng đã chết từ đời nảo đời nào, chỉ nghe nói chứ chả gặp bao giờ. Còn Hoả xá chính là Vua lửa Siu Luynh đời thứ 14 vừa băng hà tại quê nhà, làng Ơi, xã Chư A Thai, huyện A Yun Pa, tỉnh Gia Lai cách đây 6 năm. Tức là trước ông Siu Luynh này đã có 13 đời Hoả xá (Vua lửa) cùng trong dòng họ Siu, và cũng chỉ ở Chư A Thai, A Yun pa.
            Chúng ta đều biết, thực ra xã hội Tây Nguyên chưa có nhà nước. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, đến giữa thế kỷ XX thì Tây nguyên vẫn còn đang ở giai đoạn mạt kỳ mẫu hệ. Cái gọi là chính quyền mới chỉ xuất hiện vai trò của già làng, một vài nơi có tù trưởng như ông Chut Cheo Reo, người lãnh đạo nhân dân Jơrai Ayun Pa chống pháp... Cho nên từ “Pơtao” như lâu nay ta hay dịch là “vua” thực ra là không chính xác. Ở đây, pơtao để chỉ mối liên hệ giữa người Jơ Rai với các sức mạnh vô hình với họ như thần linh hoặc vũ trụ. Các Pơtao cũng đồng thời giữ mối liên hệ giữa huyền thoại và lịch sử. Thế tức là Pơtao là những người không thực quyền, họ chỉ có vai trò là cầu nối giữa cộng đồng với các đấng siêu nhiên, cụ thể ở đây là với việc cầu mưa. Ở đây, ta cũng cứ gọi là “vua’ theo truyền thống cho nó... oách và quen miệng.Trong hệ thống các vua mang yếu tố thần quyền ở Tây nguyên gồm vua lửa, vua nước, vua gió... thì vua lửa là người có vai trò lớn trong đời sống tinh thần các tộc người tây nguyên, đặc biệt là người Gia Rai. Ông vua này đã từng nhận sắc phong của triều Nguyễn trong những nỗ lực cố gắng của các vua Nguyễn muốn thâu tóm vùng đất cao nguyên rộng lớn này. Siu Luynh là đời Pơtao thứ 14 trong hệ thống các Pơtao đã tồn tại ở Tây nguyên. Gọi là vua nhưng thực chất Siu Luynh không khác gì người bình thường, cũng đi làm rẫy kiếm ăn, lấy vợ sinh con, và ngài cũng biết... đòi tiền khi nhà báo đề nghị chụp ảnh. Ông chỉ thực sự có quyền khi mà hạn hán thì ông cúng cho... mưa? và mưa nhiều quá thì ông lại cúng cho... hết mưa để khỏi úng? Vua có một thanh gươm nghe đồn là gươm thần được tôi bằng máu người mới nguội, hiện được cất rất kỹ tại một hang đá ngay bên cạnh làng Ơi, giữa cánh đồng Ayun hạ bây giờ. Đây là một thanh gươm có thật nhưng chưa ai được thấy bao giờ. Tôi sống ở Gia Lai đã hai bốn năm, nhiều lần ngồi... uống rượu với “vua”, nhiều lần lờn vờn quanh cái hang ấy, nhưng chưa bao giờ dám hó hé chuyện gươm với vua. Theo suy đoán của người viết thì nó chỉ có ý nghĩa tượng trưng cho thần quyền còn thì ít nhất nó cũng đã gỉ sét hết, và nó cũng tương tự như các thanh gươm hoặc các loại binh khí được tôn làm vật thiêng treo trên các nóc nhà rông (các vật thiêng trên nóc nhà rông ngoài binh khí, nhiều khi chỉ là hòn đá suối hoặc xương thú...). Nguồn gốc thanh gươm của Pơtao Puih theo truyền thuyết như sau: nó do anh em T'dia và T'diêng rèn từ một hòn đá ở núi Hàm Rồng (là một miệng núi lửa khổng lồ cách trung tâm TP Pleiku về phía nam khoảng chục cây số), nhưng khi rèn xong, thanh gươm cứ đỏ rực, không chịu nguội, nhúng vào ghè ghè cạn, nhúng xuống suối suối khô, nhúng xuống sông sông hết nước... cuối cùng người ta phải nhúng bằng máu các nô lệ? và ai sở hữu thanh gươm này, người đó sẽ nói chuyện được với thần linh? Từ năm 1904, một viên sĩ quan Pháp (có tài liệu nói là cố đạo, là nhà khoa học) tên là Odend’hal cùng 4 tuỳ tùng chỉ vì lý do cứ đòi xem gươm cho bằng được, đã bị dân làng giết chết. Sau đó tỉnh Gia Lai đã có một kế hoạch xem gươm do hai ông người Gia Rai đương chức thời ấy là ông Ksor Krơn nguyên bí thư tỉnh uỷ và ông Nay Quách nguyên phó giám đốc sở Văn Hoá thông tin chủ trì. Kế hoạch là phải làm một lễ rất lớn, có giết trâu cúng... rồi sau đấy mới được xem, được quay phim chụp ảnh... trong thời gian rất ngắn. Nhưng sau đấy hình như vì lý do kinh phí và cả một vài ý kiến rằng làm như thế là mê tín, là... công nhận vua... nên cuối cùng chưa ai thấy gươm cả. Tôi đã khá nhiều lần được tiếp xúc với... vua và thấy đấy là một người đàn ông Gia Rai hiền lành, có vợ con đàng hoàng, cũng lam lũ lắm, đến nhà ban ngày bao giờ cũng phải nhờ người lên rẫy, cách nhà hàng 5, 7 cây số tìm, vì ông suốt ngày làm việc trên ấy, duy chỉ một việc ranh mãnh là... làm kinh tế từ... danh hiệu vua khi ai muốn chụp ảnh ông đều phải... cho tiền.
            Như thế, Pơ tao Puih là người luôn phải gắn chặt với gươm thần. Nếu không có gươm thì... không có vua. Nhưng điều lý thú rằng, người Jrai, người Bơnah, người Lào, người Mơ Nông... đều có chung truyền thuyết về thanh gươm này. Ấy là khi thanh gươm cứ đỏ mãi không chịu nguội, sau khi đã ăn máu người (có truyền thuyết kể ăn máu nô lệ, có truyền thuyết cho rằng máu của chính một người giúp việc tên là Pang) nó vừa nguội thì anh em TDia, TDiêng vứt xuống sông. Hay tin, người Chàm, người Lào, người Khơ Me... đều lặn tìm thanh gươm. Một dân chài người Kinh lặn được thanh gươm. Từ dưới nước ông nhô người và giơ thanh gươm lên thì người Jrai giật được lưỡi gươm, người Lào giật được chuôi gươm, còn người Kinh giữ vỏ gươm. Nhà văn Nguyên Ngọc đã khai thác truyền thuyết này thành chi tiết khá đắt nói về tình đoàn kết Kinh Thượng trong tiểu thuyết “Đất nước đứng lên”. Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Vân đang công tác ở sở Văn hoá Thông tin Gia Lai cho rằng: Yếu tố bản địa của “thanh gươm thần” được nhiều tộc người khác nhau công nhận. Bóc đi các yếu tố thần thoại, đối chiếu với các tài liệu và suy luận khoa học, có thể thấy khi việc trồng lúa trở thành phương thức canh tác chính nuôi sống con người trên cao nguyên, nó đòi hỏi kèm theo những yếu tố khí hậu thời tiết nhất định. Nhưng khí hậu Tây Nguyên bấy giờ với 6 tháng nắng liên tục rất khốc liệt và cũng đầy bất thường. Trong đó, nguy cơ thường trực nhất là hạn hán (Các truyện cổ, truyền thuyết, trường ca... của người Tây Nguyên đều nhắc đến hạn hán như một nguyên nhân gây ra bi kịch và là dịp để các dũng sĩ ra tay nghĩa hiệp cứu dân làng, cứu người yêu, mà truyền thuyết nàng Ly (Thác Ia Ly) là một ví dụ). Trong hoàn cảnh ấy, ước muốn lớn nhất của người Jrai là có thể cầu xin, “hô phong hoán vũ”, bắt thiên nhiên phục vụ con người. Ngay ở làng của vua Lửa, làng Ơi, bây giờ là giữa cánh đồng Ayun hạ mênh mông nước, có một hòn đá sừng sững. Truyền thuyết kể rằng đấy chính là chàng trai người Jrai đi tìm nước cứu dân làng. Khi chỉ còn cách nước mấy chục mét nữa thì chàng chết khát và đứng luôn ở đấy từ bấy đến giờ. Dưới góc độ lịch sử thì trong nửa đầu của thiên niên kỷ thứ II sau công nguyên, những tộc người ở Tây Nguyên là nạn nhân của những cuộc xung đột triền miên giữa Lâm Ấp và Phù Nam, tiếp theo là Chiêm Thành và Chân Lạp nên họ phải lùi sâu vào những vùng núi cao, hẻo lánh, cách biệt với thế giới bên ngoài. Và vì thế mà họ biết đến nghề rèn khá muộn màng. Và khi những công cụ rèn đầu tiên xuất hiện với tất cả những tính năng ưu việt của nó so với trình độ săn bắt hái lượm và phát đốt chọc tỉa lúc bấy giờ, nó được gán cho yếu tố thần linh (Người Tây Nguyên theo tín ngưỡng nguyên thuỷ “vạn vật hữu linh” nên việc này cũng là điều dễ hiểu). Và khi gươm đã được “phong thần” thì việc tìm một người để giữ gươm như giữ vật linh là đương nhiên. Pơtao Puih có thể đã xuất hiện trong hoàn cảnh như thế.
             Như đã nói, đến nay đã có 14 đời Pơtao Puih. Nếu tính trung bình sáu chục năm một đời thì Pơtao Puih cũng mới xuất hiện trên dưới bảy tám trăm năm. Thứ tự tên các Pơtao Puih như sau; 1/ Ksor Chlỡi. Ông này là người đầu tiên được giao nhiệm vụ giữ gươm nhưng ông cương quyết từ chối vì Pơtao phải thực hiện một chế độ kiêng khem rất nghiêm ngặt (không được ăn thịt bò, ếch nhái, lòng của những động vật nuôi trong nhà...). Vì từ chối mà ông đã bị cộng đồng giết rất dã man, chặt 2 chân, 2 tay rồi chặt đầu. 2/ Rơ Chăm Trũl. 3/ Rơ Chăm ANur. Đây là người đầu tiên thực hiện các nghi lễ cúng thần gươm và có bài cúng cầu mưa hẳn hoi. 4/ Siu Bôm. Khi Anur chết, ông không trao việc giữ gìn thanh gươm cho dòng họ Rơ Chăm nữa mà trao cho con trai mình, một thanh niên thông minh và tài giỏi. Vì là con của Anur nên anh này mang họ mẹ. Từ đây vĩnh viễn thanh gươm do dòng họ Siu nắm giữ. 5/ Siu Djua. 6/ Siu Nhong. Đây là người đặt nền móng cho sự manh nha hình thành vùng lãnh thổ của Pơtao Puih. Đầu tiên ông này cũng từ chối không nhận nhiệm vụ giữ gươm vì nhà nghèo không ăn kiêng được. Dân làng thuyết phục ông 7 ngày 7 đêm, hứa sẽ cấp thức ăn cho ông ăn kiêng. Dân làng nói “ Nhong ơi, nếu ông không chịu giữ thanh gươm, chắc là cả vùng mình đây sẽ chết hết thôi. Bây giờ trời đang nắng, nếu ông gõ vào nước mà có mưa, dân làng không đau ốm thì ông là người có thần, có tài, chúng tôi sẽ cùng góp rượu, góp trâu để cúng và cử ông làm Pơtao”. Nhong đã đánh 7 lần vào nước, và 7 ngày sau thì mây mưa ào ào kéo đến như thác. Và ông chính thức phải nhận là Pơtao Puih. 7/ Siu Blông. 8/  Siu Blet. Đây là Pơtao có công rất lớn trong việc thiết lập quan hệ với người Việt. Hàng năm ông đều cử người mang quà đi tiến cống vua nước Việt và nhận quà của vua Kinh. Sử cũ có nhắc đến việc này. 9/ Siu Ji. 10/ Siu Y. Đây là Pơtao đã rời làng về địa điểm Plei Ơi ngày nay. Đây là thời kỳ trong xã hội Jrai xuất hiện nô lệ, thường là những người bị tội và không có tiền nộp phạt cho làng và bị những người giàu “mua” về, lấy tiền đó trả cho làng. 11/  Siu Ăt. Đây là vị thủ lĩnh Jrai chống pháp. Và người Pháp đầu tiên bị người Jrai giết Odend’hal chính là ở thời kỳ này. 12/ Siu Tũ. Ông này cũng quyết liệt chống Pháp và bị Pháp bắt giam ở Kon Tum. Ông mất năm 1947. 13/ Siu Nhót. Ông được cả người Pháp rồi người Mỹ sau này tìm cách thu phục. Năm 1973 ông bị ốm liệt cả tứ chi, nhưng đến 1986 ông mới mất. Mộ của ông vẫn còn ở Plei Ơi. Và người thứ 14 là Siu Luynh kế vị từ 1986. Thực ra ông này chưa được làm lễ nhận gươm và đã mất năm 1999. Ở đây có một điều lưu ý là vì người giữ gươm, tức được làm Pơtao Puih chỉ là người mang họ Siu nên con của các Pơtao không bao giờ được... nối ngôi, bởi người Jrai theo chế độ mẫu hệ, mang họ mẹ, mà theo nguyên tắc, vợ của Pơtao phải là người mang họ Rơmah. Quy định cụ thể về người nối ngôi như sau: Nếu một người mẹ họ Siu có con làm Pơtao, thì ở thế hệ tiếp theo, người kế vị sẽ là con trai của những người chị hoặc em gái của Pơtao cũ. Và cứ thế, bảo đảm người nối ngôi luôn mang dòng họ Siu. Nếu người nối ngôi khi lên nhận chức Pơtao Puih mà đã có vợ không phải họ Rơmah thì ông ta phải... bỏ bà vợ này và các phụ tế, gọi là kơeng, sẽ chọn cho ông một... hoàng hậu họ Rơmah.
             Theo chúng tôi, vua lửa Pơtao Puih là một nhu cầu tâm linh thiết yếu của người tây nguyên nói riêng, loài người nói chung, bởi ai cũng biết lửa quan trọng đối với đời sống con người như thế nào? Prômêtê chẳng đã từng được ca ngợi là "kẻ đầu tiên tuẫn tiết trên tấm lịch triết học" đó sao? Và vai trò chính của Pơtao là cầu mưa, cũng là một thứ thiết yếu với loài người. Các đời Pơtao trước có thể vai trò và thế lực của các ông lớn hơn, còn đến Siu Luynh, thực chất ông chỉ còn cái tiếng, vì sống giữa rốn của công trình thuỷ lợi Ayun hạ mênh mông 13.500 ha, chả ai cần phải đợi mưa nữa cả, nước mênh mông như giữa đồng bằng lúa nước. Nhưng dẫu sao thì ông cũng đã là một nhân vật được chú ý. Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Gia Lai hồi đó đã tổ chức cho ông tham gia đoàn già làng trưởng bản ra thăm Hà Nội, viếng lăng bác Hồ, khi về ông say sưa hào hứng kể chuyện cả tháng trời cho dân làng nghe mà vẫn "chưa hết cái Hà Nội", chưa hết “con đường ra Hà Nội”. Làng vua lửa ở là Plei Ơi (Plei = làng) đã được bộ Văn hoá Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia từ cách đây hơn mười năm (1993). Khi ông mất, cả  Plei và các vùng phụ cận đều đi đưa. Nghi lễ đám ma của ông cũng khác người thường một chút: Không đặt thi hài trên sàn nhà mà đặt dưới đất theo hướng đông tây, xác được quàn trong một cây gỗ to khoét rỗng và 2 ngày mới đi chôn. Nhà mồ hiện đại lợp ngói và trang trí rất đẹp nhưng không có tượng mồ như phong tục của người Tây Nguyên, vì tuy ông chết nhưng hồn ông vẫn còn ở với dân làng giúp những người kế vị tốt hơn?
              Theo quy định như đã dẫn thì con của Siu Luynh không được "nối ngôi". Vậy chỉ có em ruột hoặc một người nào đó mang họ Siu mới được quyền này (một thứ quyền chẳng có... quyền gì). Theo chỗ tôi được biết thì có một vị phó vương là em Siu Luynh, người thường xuyên phụ giúp Siu Luynh khi hành lễ cúng Yàng khả năng sẽ được dân làng suy tôn, tuy thế, đã mấy năm rồi, ngôi vị Pơtao Puih vẫn để trống. Sở Văn hoá Thông Tin Gia Lai, bằng nỗ lực và nhiệt tình của mình, đã vừa in và phát hành một tập sách về Vua Lửa Pơtao Puih dày gần 400 trang với nhiều thông tin rất thú vị về một hiện tượng thần quyền, vua không ngai, một hiện tượng văn hoá tín ngưỡng... của người Jơrai nói riêng và Tây nguyên nói chung...
                                       Văn Công Hùng

Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2011

Thăm thành phố của những ngôi mộ

Với nhiều du khách thích khám phá, thành phố của những ngôi mộ này đến nay vẫn chứa đựng quá nhiều điều bí ẩn. Thành phố trong núi Petra là điểm du lịch nổi tiếng và hoành tráng nhất Vương quốc Jordania.
Con đường đến đây rất thú vị, dẫn qua một khe núi hẹp, có chỗ chỉ rộng 2m. Hai vách núi ở đây dựng đứng cao từ 80-100m, do đó bầu trời phía trên nhiều lúc chỉ còn là một dải hẹp màu xanh. Sau khi đi bộ hoặc cưỡi ngựa khoảng 3km, vừa ra khỏi khe núi, phía trước mặt hiện ra “mặt tiền” của thành phố Petra, được bao bọc bởi vách núi tưởng chừng không thể vượt qua.
Al Khazneh, "nơi chứa báu vật của Pharao", được đào vào trong núi, có chiều cao khoảng 40m và chiều rộng 30m. Đây là lăng mộ của vua và gia đình ông từ cách đây hơn 2.000 năm. Sáu trụ cột kiểu korinth được tạc công phu và trên cùng của các cột này là những chiếc tiểu đựng hài cốt - điểm đến đầu tiên của Petra đã mở ra cho du khách mặt tiền hoành tráng nhất.

Theo truyền thuyết thì những chiếc tiểu kia đựng báu vật của Pharao. Tất cả cố gắng mở những chiếc tiểu này để vàng bạc châu báu tuôn ra đều vô ích. Những chiếc tiểu ấy vẫn còn nguyên vẹn tới tận ngày nay.
Người ta gọi Petra là "quan tài đá của một nền văn hóa cổ đại". Không quá tâng bốc khi nói Petra là thành phố độc nhất vô nhị. Đặc biệt là sự kết hợp giữa những công trình kiến trúc cổ đại và phong cảnh đồi núi tuyệt vời với những hình thù, màu sắc và những vân đá muôn hình vạn trạng.

Mùa hè năm 1812, anh chàng 25 tuổi người Thụy Sĩ tên Johann-Ludwig Burckhardt làm một thám hiểm vùng Cận Đông. Ở miền đông Jordania, người Bedouin kể cho anh nghe về một khu phế tích nằm trong một vùng sa mạc không thể nào đến được.

Burckhardt nói thông thạo tiếng Ả Rập, hiểu biết tất cả truyền thống và tục lệ nơi đây. Anh đã đóng giả làm người theo đạo Hồi đi hành hương và trở thành người châu Âu đầu tiên sau hơn 600 năm tìm được đường vào với báu vật có một không hai của thế giới: thành phố trong vách núi Petra.

Thành phố này được dựng lên bởi người Nabataeans, một bộ tộc người Semitic cổ đại. Quê hương gốc của họ hiện tại vẫn chưa được xác định chính xác. Thời kỳ hoàng kim của người Nabataeans là vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên đến hết thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, khi mà họ kiểm soát con đường buôn bán Caravan ở vùng Cận Đông và nhờ vậy mà trở nên giàu có và hùng mạnh.
Cát màu làm quà lưu niệm

Hầu như tất cả mọi thứ ở Petra đều được làm từ một khối. Từ những tảng đá, vách đá nguyên khối các nhà đẽo đá tạc tượng đã tạo nên những ngôi nhà, đền đài, lâu đài, lăng mộ cũng như mặt tiền của chúng và cần một khoảng thời gian 20-30 năm tùy vào độ lớn và ý nghĩa của những công trình đó. Như bức tường vua với mặt tiền khổng lồ được làm cực kỳ công phu - đây là nơi an nghỉ cuối cùng của vua chúa và tất cả sự công phu ấy chỉ là bề mặt bên ngoài, còn ở phía sau chỉ là những buồng nhỏ.

Tu viện Ed Deir cũng là một trong những Highlight trong chương trình tham quan. Mặt tiền của tu viện với diện tích 40mx50m trên đỉnh một ngọn núi thoạt trông giống như muốn nhảy ra khỏi vách núi. Nhưng vượt qua thời gian tu viện này vẫn tồn tại kể cả khi thành phố Petra đã "chết" và vẫn hiên ngang đứng đó trước động đất và bão cát - mãi mãi là "người đẹp" của Petra.

Kể từ khi Burckhardt phát hiện thành phố này, các nhà khảo cổ đã tìm ra khoảng 800 công trình cần được giữ gìn và đưa chúng vào catalogue cũng như nghiên cứu và phân tích về chúng. Một số bí mật đã được giải mã nhưng vẫn còn nhiều bí ẩn cần được hóa giải, và điều này làm tăng thêm sức cuốn hút và hấp dẫn của vùng đất này.
Một điều nữa làm cho Petra là thành phố có một không hai. Đó là sự kết hợp giữa hình dạng và cấu trúc của đá ở đây với những mẫu hình và màu sắc rất đa dạng, từ màu vàng, màu đỏ của gỉ sắt cho đến màu tím. Đá ở đây có vân hình sóng, tạo cho người ta cảm tưởng chúng là đá hoa cương (granit) và những cấu trúc đặc biệt chỉ thấy được dưới điều kiện ánh sáng nhất định.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi mà đồ lưu niệm ưa thích của 100.000 du khách mỗi năm cũng là những miếng đá có vân đẹp hay những lọ thủy tinh đựng cát nhiều màu sặc sỡ.
Petra, nằm tại giao điểm của nhiều con đường buôn bán khác nhau và được bảo vệ bởi những vách núi dựng đứng không thể xâm nhập, đã phát triển nhanh chóng thành một thành phố lớn giàu có và hào nhoáng. Thuở đó tại đây đã có 30.000 người sinh sống, chỉ riêng trong nhà hát kịch, được xây theo nguyên mẫu của người Hi Lạp và La Mã, có thể chứa được 7.000 người.
Theo thongtindulichvietnam.com

Bài đăng Phổ biến