Hiển thị các bài đăng có nhãn BẢN SẮC VĂN HÓA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BẢN SẮC VĂN HÓA. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2012

Những cái khác nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội


 Cơn mưa.
Mưa Sài Gòn giống tính tình các cô gái Sài Gòn, đỏng đảnh nhưng mau quên. Mưa Hà Nội giống tính tình các cô gái Hà Nội, âm ỉ và dai dẳng.
Ăn mặc
Ở Sài Gòn, bạn có thể mặc quần short, dép lê đàng hoàng vào Rex.
Ở Hà Nội, bạn có thể thấy các bác xe ôm mặc đồ vest đứng chờ khách bên Bờ Hồ.
Xe máy
Ở Sài Gòn, họ gọi chiếc xe gắn máy của bạn là xe hai bánh.
Ở Hà Nội, họ coi chiếc xe máy của bạn là xe có động cơ.
Gọi điện ngoài đường
Ở Sài Gòn, bạn hãy dừng xe - dắt lên vỉa hè - quay ngược đầu xe - nếu không muốn chiếc điện thoại của bạn cuốn theo chiều gió.
Ở Hà Nội, bạn hãy đứng giữa ngã tư tấp nập người qua để nói chuyện điện thoại - cho cả thế giới biết bạn là ai.
Giao thông
Ở Sài Gòn, bạn có thể vượt đèn đỏ thoải mái - nhưng chớ có đi vào phần đường xe hơi.
Ở Hà Nội, bạn có thể lượn lờ trước mũi xe hơi - nhưng đừng có dại dột mà rẽ phải tùy ý.
Ở Hà Nội: Đèn đỏ không được rẽ phải.
Ở Sài Gòn: Đèn đỏ có nơi còn được quẹo trái.
Con đường
Hà Nội: Đường, phố, ngõ, ngách.
Sài Gòn: Đại lộ, đường, hẻm, hẻm.
Hà Nội : Đường Giải Phóng chạy ra QL 1.
Sài Gòn: Đường Hà Nội chạy ra QL 1.
Giầy tất
Đàn ông Hà Nội có thể đi giày mà không cần mang tất.
Con gái Sài Gòn có thể đi tất mà không cần mang giày.
Đụng hàng
Khi hai cô gái cùng thích một món đồ giống hệt nhau:
Con gái Hà Nội: "Tớ với ấy cùng mua nó nhé?".
Con gái Sài Gòn: "Ấy mua rồi à? Vậy tớ sẽ chọn thứ khác".
Cà phê
Cà phê Sài Gòn với những hàng ghế xếp thẳng hàng như trên xe bus.
Cà phê Hà Nội chen chúc với hai đôi tình nhân cùng xếp chung một bàn.
Sài Gòn: Ít cafe + ít sữa + đá + đá + đá + ... + đá = 1 ly phê sữa đá, xong cafe có một ấm trà to tướng... chan vào cafe uống. Hết lại có thêm (không cần xin).
Hà Nội: Cafe + sữa + 2 cục đá = cốc nâu đá, xin mỏi miệng đuợc cốc nước lọc.
Trà đá
Ở Hà Nội, một cốc trà đá ở các quán nước giá 500 đồng.
Ở Sài Gòn, cốc trà đá đó có thể pha làm bốn ly nhưng lại miễn phí.
Ăn trưa
Cơm trưa Sài Gòn với tô canh khổ qua hai nghìn rưởi.
Cơm trưa Hà Nội với bát nước rau dầm sấu không lấy tiền.
Dao dĩa
Khi bạn nói: "Cho tôi thêm một cái dĩa" với người bồi bàn.
Ở Hà Nội: Người ta sẽ mang cho bạn một cái nĩa.
Ở Sài Gòn: Họ sẽ mang cho bạn một chiếc đĩa.
Cảm ơn
Ở Sài Gòn, bạn dửng dưng khi thấy cô receptionist cúi gập người chào bạn.
Ở Hà Nội, bạn xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó nói lời cảm ơn.
Dạ vâng
Khi phụ huynh người yêu bạn có lời mời bạn đến nhà dùng bữa:
Ở Hà Nội: Bạn nói: "Dạ, vâng!".
Ở Sài Gòn:! Đã "Dạ" thì khỏi cần "Vâng".
Chào hỏi
Khi bạn chào phụ huynh bố mẹ người yêu trước khi ra về:
Ở Hà Nội: "Cháu chào cô cháu về!".
Ở Sài Gòn: "Con thưa dì con dzìa!".
Tỏ tình
Khi bạn nói với một cô gái: "Thế em có yêu anh không?"
Con gái Hà Nội: "Nếu nói không thì sao?".
Con gái Sài Gòn: "Tại sao lại không nhỉ".
Giàu có
Bạn được coi là giàu có khi...
Ở Hà Nội: Bạn có rất nhiều tiền.
Ở Sài Gòn: Bạn tiêu rất nhiều tiền.
Giữ xe hàng quán
Hà Nội: Trông hộ xe miễn phí.
Sài Gòn: "Anh cho xin 2 ngàn".
Uống bia
Hà Nội: Bia hơi, lạc rang, 9 giờ tan tiệc.
Sài Gòn: Chai lạnh, đá to, nồi lẩu, nửa khuya dzìa.
Karaoke
Hà Nội: Chọn bài, hát vui là chính, hát sai tông cũng kệ.
Sài Gòn: Chọn vi tính, hát hay là chính vì thế hát rất tình cảm. Nhỡ mà sai tông sẽ quê lắm đấy ạ.
Xôi
Hà Nội: Gói lá khoai hay lá sen, xôi đồ bằng chõ.
Sài Gòn: Cho vào hộp, hay bịch nylon, cơm nếp nấu bằng nồi
Phở
Hà Nội: Khó mà thiếu mì chính, quẩy.
Sài Gòn: Làm sao ăn phở được khi mà không có rau, giá và tương đỏ (hoặc đen).
Siêu thị
Hà Nội: Đắt đỏ, hàng hóa không thiết thực.
Sài Gòn: Thuận tiện, giá rẻ như chợ. Là nơi thư giãn mỗi cuối tuần cả gia đình.
Nhà sách
Hà Nội : Nhân viên hách dịch.
Sài Gòn: Vào đọc chùa thoải mái, nhất là các em bé, có thể ngồi tại chỗ đọc mà không sợ bị đuổi.
Chùa chiền
Hà Nội: Bước chân vào là thấy lõng nhẹ bẫng, hỉ nộ ái ố đã để lại ở phía ngoài cửa.
Sài Gòn: Không gian ồn ào, không tịnh.
Tào phớ
Hà Nội: Lát mỏng, em nhớ ngày xưa hay hớt bằng vỏ con trai!
Sài Gòn: Lát dày cục, có gừng trong nước đường chứ không phải là hoa nhài.
Chè
Hà Nội: Ăn trong cốc, bát nhỏ.
Sài Gòn: Thường có nước dừa. Vội thì cắn 1 góc bịch chè và mút.
Cắt chanh
Hà Nội: Bổ ngang.
Sài Gòn: Bổ dọc 2 bên, bỏ phần giữa.
Cây xanh
Hà Nội: Nhớ phố hoa sữa Nguyễn Du, hàng sấu trên Trần Hưng Đạo. Sài Gòn: Me xanh đường Trần Văn Thủ, cây sao trên đường 3/2.
Nước canh rau muống
Hà Nội: Sấu, chanh.
Sài Gòn: Me, chanh.
HN: nem rán.
SG: chả ram, chả giò.
HN có bún chả.
SG có cơm tấm.
Cuối tuần
Hà Nội: Cả gia đình quây quần nấu nướng ăn tươi.
Sài Gòn: Đi ăn tiệm.
Chất chơi và chất chiến
Hà Nội: Xe đẹp, điện thoại nhỏ, áo bỏ trong quần nhưng hỏi tiền thì không có.
Sài Gòn: 5 số 67, Tak X đời đầu, áo phông quần sóc, hỏi tiền : Chú cần nhiêu?
Chợ tình
Người Hà Nội gọi người yêu là anh yêu, em yêu.
Người Sài Gòn gọi người yêu là ông xã, bà xã.
Xe
Hà Nội: Hiếm gặp những xe đời cũ.
Sài Gòn: Những xe viện bảo tàng cho mượn vẫn lưu hành đầy trên đường phố.
Vá xe
Sài Gòn: Vá xe lúc nửa đêm... em xin 5 ngàn thôi.
Hà Nội: Muộn rồi em ơi, 50 nghìn anh vá cho.
Hồ
Sài Gòn: Hồ con rùa to mà nhỏ, nhỏ mà to.
Hà Nội: Các hồ đều bé dần lại.
Shopping
Hà Nội: Mới sáng sớm ngày ra mà đã mặc cả kinh thế, đi đi không để còn đốt vía nào!
Sài Gòn: Cám ơn anh. Lần sau lại ghé em nha.
Tức mình chửi nhau:
Hà Nội: Đồ dở hơi
Sài Gòn: Quân mắc dịch
Hài
Hà Nội: Nặng về lời nói.
Sài Gòn: Nặng về cử chỉ.
Người Hà Nội: nói dài dòng, khó hiểu!
Người Sài Gòn: nói ngắn gọn, dễ hiểu!
Người SG nói: dễ hiểu.
Người HN nói: suy nghĩ trước khi hiểu.
Tiệm Internet
Hà Nội: ít nhưng rẻ!
Sài Gòn: nhiều mà mắc!
Ăn uống
Người Hà Nội hay ăn mặn
Người Sài Gòn hay ăn đồ ngọt
Phong cách sống
Người Hà Nội ra ngoài ban ngày, đêm về với u nó.
Người Sài Gòn ban ngày ở với vợ, ban đêm ra ngoài nhậu với bạn.
Tẩy
Ở Hà Nội: Nếu bạn gọi cái tẩy thì nó sẽ là cái tẩy
Ở Sài Gòn: Nếu bạn gọi cái tẩy, họ sẽ mang đến cho bạn một ly nước đá
Thuốc lá
Ở Hà Nội, rất dễ dàng gọi một bao Vina.
Ở Sài Gòn, em chỉ có Mèo thôi anh Hai.
Ở Hà Nội, phải mang tính lịch sự, trang trọng.
Ở Sài Gòn, càng hài ước càng thu hút mọi người.
Gọi điện về việc kinh doanh
Hà Nội: Chú là con ai đấy?.
Sài Gòn: Mang kế hoạch kinh doanh đến ta cùng bàn nhé!

Phát triển dự án
Sài Gòn: Làm thế nào để tự mình tạo lãi nhanh nhỉ?
Hà Nội: Thế Trung ương cho bao nhiêu tiền?

Khi khách đến nhà

Hà Nội: Mời bác dùng cốc chè tươi ạ.
Sài Gòn: Tí! Con chạy ra quán bà Ba mua chai nước ngọt về coi
Hà Nội: Mời cơm... ứ dám ăn.
Sài Gòn: Mời cơm là... phải ăn. Khi ai cho mình cái gì
Hà Nội: Vâng quí hóa quá.
Sài Gòn: Trời ơi dữ hông.

Khen đồ ăn ngon

Hà Nội: Ngon tuyệt cú mèo.
Sài Gòn: Ngon bá chấy bò chét.

Khen vật gì to

Hà Nội: To vật vã.
Sài Gòn: Bự bành ki.

Con gái

Sài Gòn: da rám nắng, nói năng dễ thương con gái.
Hà Nội: da trắng, lạnh lùng khó bắt chuyện.

Hà Nội: Chị ơi cho em cái túi nylon
Sài Gòn: Chị ơi cho em cái bịch xốp

Hoa quả

Hà Nội gọi quả táo là quả táo.
Sài Gòn gọi quả táo là trái bom.
Hà Nội gọi quả dứa là quả dứa.
Sài Gòn gọi quả dứa là trái thơm.
Hà Nội gọi là ô mai.
Sài Gòn gọi là xí muội.
Uống bia
Hà Nội: Chai bia được rót quay vòng cho nhiều ly.
Sài Gòn: Chai của ai người ấy uống.

Uống rượu

Sài Gòn: Rượu sẽ phải uống cùng với nước đá và vài lát chanh.
Hà Nội: "Bắc cạn".

Sinh viên và cave

Sài Gòn: nhiều em sinh viên trông như cave
Hà Nội: nhiều em cave trông như sinh viên
Sài Gòn: Hớt tóc thanh nữ và hớt tóc máy lạnh
Hà Nội: Gội đầu thư giãn
(Thực ra vào trong đó thì như nhau)

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011

Làng nón ngựa Phú Gia

Nếu xứ Huế nổi tiếng với nón bài thơ - loại nón lá thanh lịch, mỏng và nhẹ, lồng trong lớp lá là hình ghép hoa lá cùng những câu thơ, câu văn thì ở đất võ Bình Định rất có tiếng với nón ngựa Phú Gia – loại nón mang vẻ đẹp mạnh mẽ của con nhà võ, thường được thêu hoa văn theo các đề tài long, lân, quy, phụng; lưỡng long tranh châu; mai lan cúc trúc… hoặc cảnh vật trên nang sườn nón.

Khung (sườn) nón ngựa được làm từ cây dang
 trên núi cao, được bện (bủa) và thêu ren rất công phu
Nghề làm nón ngựa ra đời cách đây gần 100 năm. Trước kia, loại nón này được sản xuất ở rất nhiều nơi thuộc huyện An Nhơn và Phù Cát, đặc biệt là ở Kiều Đông, Kiều Nguyên, Phú Gia (ngày nay thuộc địa phận xã Cát Tường, huyện Phù Cát) rồi được chuyển về bán tại chợ Gò Găng. Nón chỉ dành riêng cho những người giàu sang, quyền quý, đặc biệt, những chiếc nón có bịt bạc, chạm trổ hình rồng phượng trên đỉnh nón, giới quan lại, địa chủ: các lý trưởng, chánh tổng, tại các làng quê ở Bình Định thường dùng để đội khi cưỡi ngựa, cũng chính vì điều này mà nó có tên là nón ngựa Gò Găng.
Ngày nay, nghề chằm nón ngựa chỉ còn được duy trì ở làng Phú Gia (xã Cát Tường) - cách Gò Găng khoảng 5km về hướng đông.

Để chằm được một chiếc nón ngựa, người thợ phải thực hiện bốn công đoạn: tạo sườn mê, thắt nang sườn, thêu hoa văn trên sườn và lợp lá chằm chỉ. Mỗi công đoạn có một nhóm người làm theo hình thức chuyên môn hóa.

Nghệ nhân làng Phú Gia đang thực hiện công đoạn làm nón

Nguyên liệu để làm nón là sử dụng cây giang làm sườn, lá kè (cọ) làm lá lợp nón, cây dứa (thơm tàu) làm chỉ (ngày nay, người ta đã thay thế bằng sợi dây cước mịn). Dụng cụ làm nón: lồng tre (để sấy khô lá kè), kéo chuyên dụng (cắt lá kè), dao vuốt (chẻ) nang sườn, bàn chốt nang (có những lỗ tròn nhiều kích cỡ khác nhau để tướt nang tròn đều), kim chuyên dụng chằm nón, khuôn nón mẫu.

Tuy nghề chằm nón đem lại thu nhập không cao nhưng nó đã giúp cho người dân lao động nơi đây có việc làm lúc nông nhàn. Quan trọng hơn, nghề làm nón ngựa truyền thống đang được nhà nước quan tâm, khôi phục và những chiếc nón ngựa chỉ có ở vùng đất võ Bình Định đã và đang trở thành những sản phẩm du lịch độc đáo hấp dẫn biết bao du khách.

Theo ông Đỗ Văn Lang, Tổ trưởng làng nghề nón ngựa Phú Gia cho biết: Kể từ khi Festival Bình Định được tổ chức hàng năm, rất đông du khách trong nước và nước ngoài, đặc biệt là du khách Pháp đã đến tham quan, tìm hiểu làng nghề nón ngựa Phú Gia, họ rất thích loại nón này và hết lời khen ngợi bàn tay tài hoa, khéo léo của những người thợ thủ công, họ đã đặt mua nhiều sản phẩm nón ngựa mang về làm kỷ niệm, tặng bạn bè, người thân.

Với sự phát triển của đất nước hiện nay, nón ngựa Phú Gia là một phần nét đẹp trong văn hoá du lịch Bình Định. Nghề làm nón ở đây không chỉ là một nghề thủ công thuần tuý, mà nó còn đóng vai trò như một hoạt động nghệ thuật, đem lại cho xã hội những sản phẩm nghệ thuật độc đáo, có ích.
                                                                                                    Thanh Hải biên tập
(Nguồn: Trung tâm Thông tin du lịch)

Múa rối nước - sản phẩm văn hóa đặc sắc của Việt Nam

Múa rối nước là một loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống lâu đời của Việt Nam, xuất hiện từ đời Lý, vào khoảng thế kỷ 11, đầu thế kỷ 12. Sân khấu rối nước là sân khấu hội hè, lưu giữ nhiều sáng tạo nghệ thuật dân gian, kỹ thuật nhân dân cổ xưa và nhiều sinh hoạt tinh thần, tập tục, lao động vật chất của cư dân trồng lúa nước Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước từ hàng nghìn năm xưa.

Trải qua một thời gian dài gần 10 thế kỷ, nghệ thuật múa rối nước luôn thu hút người xem và đến nay múa rối nước không chỉ chiếm được sự mến mộ của khán giả trong nước mà còn đặc biệt hấp dẫn du khách nước ngoài.

Đặc điểm nổi bật của nghệ thuật rối nước là dùng mặt nước làm sân khấu cho con rối hoạt động. Phía sau sân khấu có phông che, xung quanh trang trí cờ, quạt, voi, lọng, cổng hàng mã (gọi là nhà rối hay thủy đình). Những con rối biểu diễn nhờ sự điều khiển của những người phía sau phông, thông qua hệ thống sào, dây. Biểu diễn rối nước không thể thiếu những tiếng trống, âm thanh khác phụ trợ. Nước không chỉ là nơi con rối làm trò đóng kịch mà còn là yếu tố cộng minh, cộng sinh, cộng hưởng. Nước vừa cản trở vừa hỗ trợ, phối hợp với con rối. Con rối nước chỉ là những công trình điêu khắc gỗ sơ sài, thô cứng, màu sắc nghèo, cử động gấp khúc, vừa đủ gợi cho người xem nhận thức khái quát về người, về vật,... Nhưng nước đã tạo nên sự ảo hoá hiện tượng nhờ đặc tính lỏng và phản quang của mình. Sân khấu rối nước luôn đầy ắp sắc hình trời, mây, cây, cảnh... chuyển đổi khôn lường in trên mặt nước làm nền cho nhân vật “rối” hoạt động. Trên “sân khấu” này, tất cả đều lung linh, mềm mại, uyển chuyển, biến hoá liên tục trước mắt người xem. Những gì là thô cứng, nghèo nàn của đường nét, màu sắc, cử động ở quân rối đều trở nên sinh động, phong phú. Nước ẩn giấu trong lòng tất cả mọi bí mật của trò rối. Người xem trên bờ thấy con rối chợt hiện, chợt ẩn, mềm mại, dịu dàng, uốn lượn hơn cùng tiếng trống, tiếng nhạc.

Trước kia, xem rối nước là ngồi ngoài trời, trực tiếp với thiên nhiên. Ở đây tất cả đều thực, giác quan con người đều có thể cảm thụ được. Rối nước vừa thực vừa hư, vừa sân khấu vừa cuộc đời, gắn bó với nhân dân Việt Nam như cây đa, bến nước, lời ru, cánh cò,... Múa rối nước thường được biểu diễn trong dịp tết cổ truyền hoặc trong các dịp lễ hội của người Việt. Trong kho tàng múa rối nước của Việt Nam, có hàng trăm trò / tiết mục kể về những sự tích dân gian và cuộc sống hàng ngày của người dân Việt và miền đồng bằng sông Hồng, nơi được biết đến như là cái nôi sinh ra hình thức nghệ thuật này.

Ngày nay, hàng chục trò/ tiết mục đã được các Nhà hát múa rối chuyên nghiệp và các làng rối khai thác.

Đến với làng rối hàng trăm năm tuổi

Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nơi đâu cũng có nghệ thuật múa rối dân gian, có rất nhiều phường rối đã và đang được duy trì bảo tồn và phát triển.

Phường rối nước Hồng Phong là một trong những làng quê vẫn gìn giữ được những tích trò đặc sắc. Trải qua bao đổi thay của lịch sử, Hồng Phong vẫn giữ cho mình một vẻ đẹp nguyên sơ, thanh bình. Quanh ao Thủy Đình, nơi diễn các tuồng tích rối nước của phường rối Hồng Phong luôn thu hút rất đông du khách trong và ngoài nước. Hơn 300 năm tồn tại với nhiều biến cố thăng trầm, phường rối nước Hồng Phong đã tạo được tên tuổi vang xa khắp cả nước. Và nơi đây cũng là điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước mỗi khi đến Hải Dương.

Để có các tích trò thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước đến tham quan, thưởng thức, các nghệ nhân phường rối nước Hồng Phong đã phải tốn rất nhiều thời gian công sức và tâm huyết để tạo ra vẻ đẹp hình thức cho những con rối cũng như thường xuyên sáng tạo đổi mới các tích trò. Trong khi đó, biểu diễn rối nước rất công phu và phải qua nhiều công đoạn chuẩn bị nên đòi hỏi nghệ nhân sự kiên trì, lòng nhẫn nại cùng niềm say mê nghề. Có hàng chục công đoạn phải chuẩn bị như: làm thủy đình, đóng cọc, dẫn dây, rồi tác tạo hình tượng những con rối phù hợp với từng tích, trò. Các công đoạn không phức tạp lắm nhưng lại đòi hỏi sự khéo léo và khiếu thẩm mỹ cao của các nghệ nhân tạo hình. Các con rối, chú Tễu, các con vật quen như: long, lân, qui, phụng, cá chép vượt vũ môn… của phường rối Hồng Phong sinh động hơn nhiều nơi khác do chúng được thực hiện bởi các nghệ nhân làng mộc Cúc Bồ nổi tiếng với tay nghề tinh xảo.

Đến với phường rối nước Hồng Phong, du khách không chỉ được thưởng thức mà còn có thể tự mình tham gia rối nước. Ở đây, du khách cũng có thể trở thành một nghệ nhân thực thụ với chú Tễu, quần xắn cao tận đầu gối, họ lội xuống nước học cách biểu diễn rối nước và thích thú điều khiển chú Tễu hoạt động.

Phá cách sân khấu rối truyền thống: Một mình… một sân khấu

Nghệ sĩ Phan Thanh Liêm sinh ra trong một gia đình 7 đời biểu diễn múa rối nước ở thôn Trạch, Nam Chấn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Cha anh là nghệ nhân Phan Văn Ngải, tác giả của thủy đình đang được hầu hết các nhà hát, các phường rối nước sử dụng hiện nay và là người sáng tạo ra hình tượng chú Tễu đang được trưng bày tại Bảo tàng Louvre (Pháp). Hiện nay, anh là thành viên của Tổ chức Múa rối Thế giới UNIMA.

Anh đã làm được điều dường như không tưởng và được biết đến như là một "phù thuỷ" có thể “hô biến” một ao nước mênh mông với hàng chục diễn viên cùng cả tấn đạo cụ cồng kềnh thành một sân khấu mini mà anh là diễn viên duy nhất. Và chỉ sân khấu của anh, khán giả nhí mới có thể thử làm diễn viên múa rối.

Anh giải thích, ngày xưa các cụ sử dụng những con rối rất nhỏ chứ không to như các nhà hát đang dùng bây giờ. Vì thế, nhân vật rối của anh cũng chỉ nhỏ bé xinh xắn như những món đồ lưu niệm. Anh chế ra một sân khấu nhỏ được lắp từ những mảnh ghép, sau đó trải lên một tấm bạt và đổ nước. Nếu các nghệ sĩ rối nước khác luôn phải ngâm mình trong nước còn anh thì chỉ đứng ngoài bể và dùng tay điều khiển. Đồ nghề có thể xếp gọn trong một chiếc hòm, đi đâu xách theo nhẹ nhàng như người đi du lịch.

Trông như một chậu nước to song sân khấu mini ấy lại cần sự tính toán cẩn trọng, vì chỉ cần lượng nước không đủ hay đặt trên bề mặt gồ ghề là có thể tan tành một buổi diễn. Sân khấu độc đáo này có thể len lỏi đến từng ngóc ngách dân cư mà đồng nghiệp tại các nhà hát lớn phải… bó tay. Lúc thì trên vỉa hè một hội chợ, khi lên khu nghỉ dưỡng trên núi, thậm chí vào cả tháp Hà Nội. Đến nay, anh là người duy nhất biểu diễn rối nước kiểu này và sân khấu mang tên Thanh Liêm được bạn bè quốc tế truyền tai nhau như một sự thú vị, lạ lùng.

Những ngày đầu, anh biểu diễn với một con rối, rồi dần dà anh nghĩ cách để điều khiển hai, ba nhân vật. Đến giờ, cùng lúc anh có thể “bắt” 8 chú rối phải nghe theo ý mình nhờ một dàn điều khiển mà phải khó nhọc lắm mới sáng chế thành công.

Anh cho biết, các trò diễn dân gian đem lại cho anh niềm tự hào khôn tả mỗi khi biểu diễn tại xứ người. Chỉ đơn giản là trò chọi trâu, đua thuyền, múa rồng… song khán giả có thể cảm nhận được nét tinh tế trong văn hoá của người điều khiển. Theo anh, các trò diễn không cần kể

câu chuyện thật hay mà cái chính là sự khéo léo, tài tình trong từng động tác di chuyển, hoạt động của nhân vật rối. Những chuyến lưu diễn dài ngày ở Ý, Ba Lan, Canada, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan… của anh luôn được khán giả đón nhận nồng nhiệt. 


Thông tin thêm:

Một số địa chỉ biểu diễn múa rối nước:

+ Tại Hà Nội:

+ Nhà hát múa rối Việt Nam
Địa chỉ: 361 Trường Chinh - Hà Nội
Đặt chỗ, mua vé xem biểu diễn xin liên hệ:
Phòng bán vé: (84-4) 3853 4545
Thời gian biểu diễn:   17h00 – 18h30 các ngày trong tuần
Giá vé: Loại 1:    50.000VND/vé
Loại 2:   40.000 VND/vé

+ Nhà hát múa rối Thăng LongĐịa chỉ: 57b Đinh Tiên Hoàng – Hà Nội
Nhà hát biểu diễn vào các ngày trong tuần
Thời gian:     15h30 – 17h00 – 18h30 – 20h00 – 21h15
Sáng Chủ Nhật 9.30 (Đặc biệt giảm 1/2 giá vé cho thiếu nhi)
Giá vé: Loại 1:    60.000VND/vé
Loại 2:   40.000 VND/vé

+ Tại Huế:

+ Nhà hát múa rối Cố Đô Huế
 Địa chỉ: 49 Lê Lợi – Tp. Huế.
- Thời gian biểu diễn: Nhà hát mở cửa phục vụ quý khách tất cả các buổi chiều và tối trong tuần (kể cả chủ nhật và ngày lễ); Gồm 3 xuất diễn (múa rối nước):
- Lịch diễn mùa đông:   15h30 - 18h 30 - 20h30
- Lịch diễn mùa hè:       15h30 - 19h30 - 21h00
- Thời lượng xuất diễn: 50 phút
Giá vé:
        Khách nước ngoài:
                    - Người lớn: 50.000 đồng
                    - Trẻ em: 30.000 đồng
       Người Việt Nam:
                    - Người lớn: 40.000 đồng
                    - Trẻ em: 20.000 đồng

+ Tại TP. Hồ Chí Minh:

+ Nhà hát múa rối nước Rồng VàngĐịa chỉ: Cung văn hóa Lao động, 55B Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1 TP. Hồ Chí Minh

Phương Anh (Tổng hợp)

Thứ Hai, 28 tháng 11, 2011

Hát Xoan chính thức được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể thế giới

Trưa ngày 24/11/2011, tại Hội nghị lần thứ 6 của Ủy ban Liên chính phủ về Bảo tồn Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO được tổ chức tại Bali (Indonesia), hồ sơ Hát Xoan (Phú Thọ) của Việt Nam đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại. 


Trong danh sách 23 hồ sơ đề cử xem xét là di sản phi vật thể cần được bảo tồn khẩn cấp, hồ sơ Hát Xoan của Việt Nam được đánh giá cao vì được chuẩn bị rất tốt và nêu rõ giải pháp bảo tồn có hiệu quả.

Hồ sơ Hát Xoan đã hội đủ các yêu cầu cần thiết của UNESCO, đó là: tính giá trị, tính cộng đồng trong việc sáng tạo và lưu truyền từ đời này qua đời khác; sức sống mạnh mẽ của Hát Xoan cũng như các cam kết nhằm bảo vệ loại hình nghệ thuật này không bị biến mất trong đời sống hiên đại. Đây là một trong số ít những hồ sơ nhận được toàn bộ sự ủng hộ của hội đồng tư vấn khoa học xét duyệt sơ khảo trước đó.

Tin Hát Xoan (Phú Thọ) được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại đã một lần nữa làm nức lòng những người làm công tác văn hoá cũng như nhân dân cả nước. Tiến sĩ Đặng Văn Bài, Phó Chủ tịch Hội Di sản văn hoá Việt Nam nhấn mạnh: Tất cả những người có liên quan trong lĩnh vực hoạt động di sản văn hoá đều rất tự hào và vui mừng. Tự hào vì Việt Nam lại có thêm một di sản được vinh danh ở tầm quốc tế. Đó là sự đóng góp xứng đáng của Việt Nam để tạo thêm sự đa dạng, phong phú của Kho tàng di sản văn hoá nhân loại. Kèm theo niềm vui còn là trách nhiệm bảo vệ di sản không chỉ của các cơ quan quản lý Nhà nước mà còn của cả cộng đồng.

Ông Nguyễn Hữu Toàn - Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) khẳng định: Sau khi được UNESCO công nhận, chúng ta sẽ công bố chương trình hành động cụ thể, toàn diện và thiết thực để bảo tồn di sản này được tốt nhất trong thời gian tới.

Hát Xoan là một Di sản văn hóa phi vật thể quý giá của vùng đất Tổ Hùng Vương. Hát Xoan Phú Thọ thuộc loại hình dân ca lễ nghi phong tục, là hát cửa đình, hội tụ đa yếu tố nghệ thuật như: nhạc, hát, múa... Nguồn gốc của Hát Xoan gắn với những giai thoại của thời đại Vua Hùng dựng nước. Các làng Xoan gốc đều là những ngôi làng cổ nằm trên địa bàn trung tâm nước Văn Lang xưa, vì vậy hát Xoan còn bảo lưu được nhiều yếu tố văn hóa cổ của thời đại bình minh dựng nước...

Hát Xoan được vinh danh góp phần tôn vinh giá trị văn hóa, đạo lý của Việt Nam, khẳng định vị thế dân tộc Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Chính vì thế cùng với niềm tự hào về di sản được vinh danh, tỉnh Phú Thọ cũng nhận thấy rõ trách nhiệm của mình đối với việc bảo tồn di sản quí giá này.

Ông Nguyễn Doãn Khánh, Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ nêu rõ: “Hát Xoan được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đã là một thành công rất lớn. Để giữ được những giá trị văn hoá này thực sự trường tồn lâu dài với dân tộc và phát huy giá trị đòi hỏi Phú Thọ phải cố gắng rất nhiều để bảo tồn, phát huy giá trị di sản này bằng việc đầu tư vật chất và công sức, truyền dạy cho các thế hệ mai sau”.

Theo ông Hoàng Dân Mạc - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ, để bảo tồn và phát huy giá trị của nghệ thuật hát Xoan, trong thời gian tới, tỉnh Phú Thọ chú trọng phổ biến, quảng bá giới thiệu giá trị của hát Xoan với cộng đồng trong tỉnh, trong cả nước và với bạn bè quốc tế; tổ chức các lớp học về phương pháp truyền dạy và phổ biến rộng rãi loại hình nghệ thuật hát Xoan cho người dân cả nước nói chung, Phú Thọ nói riêng…

Được biết, tỉnh Phú Thọ sẽ khuyến khích các nghệ nhân của các làng Xoan cổ tham gia các lớp truyền dạy hát Xoan.
                                                                                                                                  (Nguồn: ĐCSVN)

Thứ Năm, 10 tháng 11, 2011

18 VỊ LA HÁN

La-hán Ba Tiêu
œ]

Tên của Ngài là Phạt-na-bà-tư 伐那婆斯 (Vanavāsin). Theo truyền thuyết khi mẹ Ngài vào rừng viếng cảnh, mưa to dữ dội và bà hạ sanh Ngài trong lúc ấy. Sau khi xuất gia với Phật, Ngài thích tu tập trong núi rừng, thường đứng dưới các cây chuối nên còn được gọi là La-hán Ba Tiêu.
Có lần, đức Phật hàng phục con yêu long trong một cái đầm sâu. Cảm phục ân đức của Phật, yêu long xin Ngài lưu lại chỗ của mình để được gần gũi cúng dường. Phật dạy Ngài không thể ở một nơi lâu, nên cử năm vị Đại A-la-hán đến, đó là các vị Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Nhân-kiệt-đà, Tô-tần-đà và Phạt-na-bà-tư. Khi tôn giả Phạt-na-bà-tư đến tiếp nhận lễ vật cúng dường, Ngài thường thích tọa thiền trên phiến đá lớn bên cạnh đầm, khi thì ngồi suốt tuần, lúc ngồi cả nửa tháng.
Theo lời phó chúc của đức Phật, Tôn giả lưu tâm hóa độ vua Ca-nị-sắc-ca. Nhân dịp nhà vua đi săn, Tôn giả hóa làm con thỏ trắng dẫn đường cho vua đến gặp một mục đồng đang lấy bùn đất nặn tháp Phật. Mục đồng nói rằng Phật thọ ký 400 năm sau vua Ca-ni-sắc-ca sẽ xây tháp thờ Phật tại đây. Mục đồng ấy cũng chính là Phạt-na-bà-tư hóa hiện. Từ đó, vua trở nên bậc đại quân vương hoằng dương Phật pháp, xây chùa tháp tự viện, ủng hộ cúng dường Tăng chúng, tổ chức kiết tập kinh điển Phật giáo lần thứ tư tại thủ đô Ca-thấp-di-la. Tất cả những thành tựu này đều nhờ thâm ân giáo hóa của tôn giả Phạt-na-bà-tư.
Theo Pháp Trụ Ký, tôn giả Phạt-na-bà-tư là vị La-hán thứ mười bốn, ngài và 1.400 vị La-hán thường ở trong núi Khả Trụ.

La-hán Bố Đại
œ]

Tên của Ngài là Nhân-yết-đà 因羯陀 Nhân-kiệt-đà (Angada). Theo truyền thuyết Ngài là người bắt rắn ở Ấn Độ, xứ này nhiều rắn độc hay cắn chết người, Ngài bắt chúng, bẻ hết những răng nanh độc rồi phóng thích lên núi. Hành động ấy phát xuất bởi lòng từ cao độ, nên Ngài được xem như biểu trưng của từ bi. Sau khi đắc đạo, Ngài thường mang một túi vải bên mình để đựng rắn, cũng trùng hợp như Hòa thượng Bố Đại ở Trung Hoa.
Nhân có một người nước Ô-trượng-na muốn tạc tượng Bồ-tát Di-lặc, nhưng chưa được thấy diện mạo Bồ-tát nên không dám làm. Ông lập hương án trong vườn hoa chí thành khấn nguyện, cung thỉnh một vị Hiền Thánh đến để giúp ông. Khấn xong thì có một vị La-hán xuất hiện xưng tên là Nhân-yết-đà, đến đưa ông lên cung trời Đâu-suất để gặp Bồ-tát Di-lặc. Tôn giả đã đưa người này lên cung trời trước sau cả thảy ba lần để chiêm ngưỡng chân tướng trang nghiêm của Bồ-tát. Tượng Bồ-tát tạo xong được bảo tồn tại thủ đô nước Ô-trượng-na, đó là nhờ công ơn của Tôn giả.
La-hán là bậc bất sanh bất diệt, đến đi tự tại, các Ngài du hóa nhân gian dưới mọi hình thức. La-hán Bố Đại có hình tướng mập mạp, bụng to, túi vải lớn bên mình như là hiện thân của Bồ-tát Di-lặc, trong câu chuyện trên đã có ít nhiều liên hệ.
Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ mười ba, thường cùng 1.300 vị A-la-hán trụ trong núi Quảng Hiếp.

La-hán Cử Bát
œ]

Tên của Ngài là Ca-nặc-ca-bạt-ly-đọa-xà 迦諾迦跋釐墮蛇 (Kanakabharadvāja). Ngài là vị Đại đệ tử được đức Phật giao phó giáo hóa vùng Đông Thắng Thần Châu.
Quốc vương nước Tăng-già-la ở Nam Hải không tin Phật pháp, Tôn giả Ca-nặc-ca tìm cách hóa độ. Một sớm mai, khi đang cầm gương soi mặt, quốc vương giật mình kinh sợ vì trong gương không có mặt mình mà có hình dáng vị đại sĩ Bạch Y. Đây là do phép thần biến của Tôn giả. Theo lời khuyên của quần thần, nhà vua cho tạc tượng Bồ-tát Quan Thế Âm để thờ phụng và từ đó hết lòng tin Phật.
Ngài Huyền Trang khi sang Ấn Độ, trú tại chùa Na-lan-đà nghe kể câu chuyện sau: Sau khi Phật Niết-bàn vài trăm năm, quốc vương nước Ma-kiệt-đà làm lễ lạc thành ngôi chùa Đại Phật, thỉnh mấy ngàn vị Hòa thượng đến cúng dường. Khi mọi người bắt đầu thọ trai, bỗng nhiên có hai vị Hòa thượng từ không trung bay xuống. Cả hội chúng kinh ngạc, vua hỏi lai lịch thì một vị xưng là Tân-đầu-lô ở Tây-cù-da-ni châu, một vị xưng là Ca-nặc-ca ở Đông Thắng Thần Châu. Vua vui mừng thỉnh hai Tôn giả chứng minh trai phạn. Thọ trai xong, hai vị cười nói:
- Này các vị, 16 La-hán chúng tôi sẽ mãi mãi lưu lại thế gian, cùng tu tập với tất cả Phật tử chí thành đời sau.
Tôn giả Ca-nặc-ca thường mang một cái bát sắt bên mình khi du hành khất thực, nên được gọi là La-hán Cử Bát.
Theo Pháp Trụ Ký ngài là vị La-hán thứ ba, thường cùng 600 vị A-la-hán trú tại Đông Thắng Thần Châu. 

La-hán Hàng Long
œ]

Ngài tên là Nan-đề-mật-đa-la 難提密多 (Nandimitra), Trung Hoa dịch Khánh Hữu, ra đời sau Phật diệt độ 800 năm, cư trú tại nước Sư Tử.
Ngài là vị Đại La-hán thần thông quảng đại, đạo hạnh trang nghiêm. Tương truyền có một lần cả đảo Sư Tử bị Long Vương dâng nước nhận chìm, Tôn giả ra tay hàng phục rồng nọ và được tặng hiệu La-hán Hàng Long. Khi Ngài sắp thị tịch, mọi người buồn thương lo sợ vì thế gian sẽ không còn bậc La-hán. Ngài cho biết có 16 vị La-hán vâng lệnh Phật lưu trụ cõi Ta-bà để ủng hộ Phật pháp. Lời dạy của Ngài được ghi chép lại thành bộ “Pháp Trụ Ký”. Nói “Pháp Trụ Ký” xong, tôn giả Khánh Hữu bay lên không trung hóa hiện vô số thần biến, rồi dùng chơn hỏa tam-muội thiêu thân. Xá-lợi ngũ sắc rơi xuống như mưa, mọi người tranh nhau lượm mang về tôn thờ cúng dường.
Tuy đã thiêu thân, nhưng Tôn giả không rời nước Sư Tử, Ngài bay về động đá trên núi để tọa thiền. Thời gian thoáng chốc đã hơn 400 năm, khi Tôn giả xuất định Ngài ôm bát xuống núi khất thực thì thấy phong cảnh đã đổi khác. Ngài nhẫm tính lại và khám phá ra mình đã tọa thiền hơn 400 năm bèn bật cười ha hả. Sau đó Ngài thường xuất hiện khắp nơi, khi thì trì bát, lúc thì giảng kinh… Mọi người vẫn còn tin rằng Ngài vĩnh viễn không rời thế gian mà luôn luôn cùng 16 vị La-hán kia tiếp tục hoằng hóa.
* Dị bản: Tôn giả Nan-đề-mật-đa-la là vị La-hán thứ 17, do mọi người tưởng nhớ công ơn ngài nói ra Pháp Trụ Ký.

La-hán Khai Tâm
œ]

Hình tượng vạch áo bày ngực để hiển lộ tâm Phật. Ngài tên là Thú-bác-ca 戍博迦 (Jivaka). Thú-bác-ca vốn là một Bà-la-môn nổi danh, nghe nói thân Phật cao một trượng sáu, Thú-bác-ca không tin nên chặt một cây trúc dài đúng một trượng sáu để đích thân đo Phật. Lạ thay, dù đo bất cứ cách nào, thân Phật vẫn cao hơn một chút. Thú-bác-ca tìm một cây thang dài rồi leo lên thang đo lại, kết quả cũng vậy. Đo đến mười mấy lần, không còn cây thang nào dài hơn mà thân Phật vẫn cao hơn. Lúc này ông thiệt tình khâm phục và xin quy y làm đệ tử.
Sau khi xuất gia, trải qua bảy năm khổ hạnh, Ngài chứng quả A-la-hán. Vì muốn kỷ niệm nhân duyên đo Phật mà xuất gia ngộ đạo, Ngài lấy cây sào lúc trước, đi đến chỗ cũ nói:
- Nếu Phật pháp là chân lý ngàn đời thì xin cây sào này mọc lại và sinh trưởng ở đây.
Nói xong, Ngài cắm cây sào xuống đất. Cây sào bỗng nẩy chồi ra lá. Thời gian sau từ chỗ đó mọc lên một rừng trúc tốt tươi lan rộng cả vùng, người ta gọi nơi ấy là Trượng Lâm. Quần chúng Phật tử kéo đến chiêm bái chứng tích mầu nhiệm của cây gậy đo Phật. Nơi đây rừng núi khô cằn hoang dã, thiếu nước uống nghiêm trọng, tôn giả Thú-bác-ca liền vận thần thông biến ra hai suối nước một nóng, một lạnh để mọi người tha hồ sử dụng. Hai suối này nằm cách mười dặm về phía Tây Nam của Trượng Lâm. Dân chúng vùng này mãi nhớ ơn đức của Tôn giả.
Theo Pháp Trụ Ký, ngài Thú-bác-ca là vị La-hán thứ chín, thường cùng 900 vị La-hán trụ trong núi Hương Túy.

La-hán Kháng Môn
œ]

Tên của Ngài là Chú-trà-bán-thác-ca, hay Châu-lợi-bàn-đặc 周利槃特 (Cullapatka). Truyền thuyết Phật giáo nhắc đến Ngài như một tấm gương cần cù nhẫn nại. Vì không thông minh như anh nên khi xuất gia Ngài không tiếp thu được Phật pháp, kể cả xếp chân ngồi thiền cũng không xong. Về sau được sự chỉ dạy lân mẫn của Thế Tôn, Ngài thực hành pháp môn quét rác với cây chổi trên tay. Nhờ sự kiên trì, dốc tâm thực hành lời dạy của Phật, quét sạch mọi cấu uế bên trong lẫn bên ngoài, Ngài đã chứng Thánh quả.
Một hôm đại thần Kỳ-bà thành Vương Xá thỉnh Phật và các vị A-la-hán đến nhà thọ trai. Tôn giả Bán-thác-ca không biết em mình đã chứng quả nên không phát thẻ tham dự. Đến khi chuẩn bị thọ trai, Phật bảo Bán-thác-ca về tinh xá xem có sót người nào. Tôn giả về Trúc Lâm thì thấy cả ngàn vị Hòa thượng đang tọa thiền rải rác trong vườn. Ngạc nhiên và dùng thiên nhãn quán sát, mới vỡ lẽ ra đó là trò đùa của em mình, Tôn giả mừng rỡ xúc động, tán thán công phu của Châu-lợi-bàn-đặc.
Theo truyền thuyết, khi đi khất thực Tôn giả gõ cửa một nhà nọ và làm ngã cánh cửa cũ hư. Điều này cũng gây bối rối! Về sau, Phật trao cho Tôn giả một cây gậy có treo những chiếc chuông nhỏ để khỏi phải gõ cửa nhà người. Nếu chủ nhân muốn bố thí thì sẽ bước ra khi nghe tiếng chuông rung. Cây gậy gõ cửa trở thành biểu tượng của Tôn giả, và là hình ảnh quen thuộc trong sinh hoạt Phật giáo.
Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả là vị La-hán thứ mười sáu, cùng với 1.600 vị A-la-hán thường trú tại núi Trì Trục.

La-hán Khánh Hỷ
œ]

Ngài tên là Ca-nặc-ca-phạt-tha 迦諾 迦伐磋 (Kanakavatsa), còn gọi là Yết-nặc-ca-phược-sa. Đức Phật thường khen Ngài là vị La-hán phân biệt thị phi rõ ràng nhất. Khi chưa xuất gia Ngài là người rất tuân thủ khuôn phép, giữ gìn từ lời nói đến hành động, một ý nghĩ xấu cũng không cho phát khởi. Sau khi xuất gia, Ngài càng nỗ lực tinh tấn tu tập, nhờ thiện căn sâu dày Ngài chứng quả A-la-hán rất mau.
Ngài thường đi du hóa khắp nơi với gương mặt tươi vui và dùng biện tài thuyết pháp để chiêu phục chúng sanh. Thấy mọi người thường vô ý tạo nhiều nghiệp ác hằng ngày, tương lai bị quả khổ địa ngục nên khi thuyết pháp Ngài thường xiển minh giáo lý nhân quả thiện ác, giúp chúng sanh phân biệt rõ ràng để sửa đổi. Một lần nọ đi ngang qua thôn trang, thấây một gia đình đang giết vô số trâu dê gà vịt để làm lễ mừng thọ. Ngài ghé lại, thuyết giảng một hồi về phương pháp chúc thọ, về cách mừng sinh nhật để được sống lâu hạnh phúc, đền đáp ơn sinh thành. Ngài dạy rằng, ngày sinh nhật là ngày khó khăn khổ nhọc của mẹ, nên phận làm con không được ăn uống vui chơi, trái lại nên tịnh tâm suy niệm ân đức cha mẹ, quyết chí tu tập thành tựu đạo nghiệp.
Bằng cách giảng dạy chân thật, Tôn giả suốt đời như ngọn hải đăng đem ánh sáng Phật pháp soi rọi nhân sinh.
Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ hai, thường cùng 500 vị La-hán trụ tại nước Ca-thấp-di-la (Kashmir).

La-hán Khoái Nhĩ
œ]

Ngài tên là Na-già-tê-na 那伽犀那 (Nāgasena) hay còn gọi là Na Tiên. Nāgasena theo tiếng Phạn nghĩa là đội quân của rồng và tượng trưng sức mạnh siêu nhiên. Ngài Na Tiên sinh trưởng ở miền Bắc Ấn là bậc La-hán nổi tiếng về tài biện luận. Đương thời của Ngài gặp lúc vua Di-lan-đà cai trị, nhà vua là người Hy Lạp vốn chuộng biện thuyết. Nghe tiếng tôn giả Na Tiên là bậc bác học đa văn nên nhà vua đích thân phỏng vấn. Cuộc vấn đạo giữa bậc đế vương và bậc Tỳ-kheo thoát tục đã để lại cho chúng ta một tác phẩm bất hủ “Kinh Na Tiên Tỳ Kheo”, mà cả hai tạng Nam truyền và Bắc truyền đều lưu giữ đến nay. Nhờ sự chỉ dạy của tôn giả Na Tiên mà cuối cùng vua Di-lan-đà trở thành vị quốc vương anh minh hết lòng ủng hộ Phật pháp.
Có chỗ nói ngài Na Tiên chuyên tu về nhĩ căn, tranh tượng của Ngài mô tả vị La-hán đang ngoáy tai một cách thú vị. Mọi âm thanh vào tai đều giúp cho tánh nghe hiển lộ, rất thường trụ và rất lợi ích. Từ nhĩ căn viên thông phát triển thiệt căn viên thông, trở lại dùng âm thanh thuyết pháp đưa người vào đạo, đó là ý nghĩa hình tượng của tôn giả Na Tiên.
Theo Pháp Trụ Ký, Ngài cũng là vị La-hán thứ mười hai, thường cùng 1.200 vị A-la-hán trụ trong núi Bán-độ-ba.

La-hán Kỵ Tượng
œ]

Tên của Ngài là Ca-lý-ca 迦哩迦 (Kalica), trước khi xuất gia làm nghề huấn luyện voi. Khi Tôn giả chứng quả A-la-hán, đức Phật bảo Ngài nên ở tại quê hương mình (Tích Lan) để ủng hộ Phật pháp.
Phật đến Tích Lan thuyết kinh Lăng Già, Tôn giả cũng là một trong số đệ tử đi theo. Đức Phật sắp rời đảo, vua Dạ-xoa cung thỉnh đức Phật để lại một kỷ niệm tại đảo để làm niềm tin cho hậu thế. Thế Tôn ấn dấu chân của mình trên một ngọn núi, nơi đó trở thành Phật Túc Sơn, và bảo tôn giả Ca-lý-ca gìn giữ thánh tích này. Phật Túc Sơn nổi tiếng khắp nơi, mọi người đua nhau chiêm lễ. Trải qua thời gian nó bị chìm vào quên lãng, con đường dẫn lên núi bị cỏ hoang phủ kín. Trong dịp vua Tích Lan là Đạt-mã-ni-a-ba-á bị kẻ địch rượt đuổi nên chạy trốn vào hang núi, Tôn giả hóa thành một con nai hoa rất đẹp dụ dẫn nhà vua lên núi để hiển lộ lại dấu chân Phật. Sau nhiều triều đại kế tiếp, Phật Túc Sơn lại không người viếng thăm. Tôn giả một phen nữa hóa thành thiếu nữ bẻ trộm hoa trong vườn của vua. Khi bị bắt, thiếu nữ chỉ tay lên ngọn núi phủ sương mờ, bảo rằng mình hái hoa cúng Phật ở trên ấy. Phật Túc Sơn từ đó khắc sâu hình ảnh trong lòng người, mỗi năm đến ngày 15 tháng 3 âm lịch, quần chúng kéo nhau đi lễ bái thánh tích rầm rộ không ngớt.
Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả Ca-lý-ca là vị La-hán thứ bảy, cùng với 1.000 vị A-la-hán luôn thường trụ tại Tăng Già Trà Châu (Tích Lan).

La-hán Phục Hổ
œ]

Tên của Ngài là Đạt-ma-đa-la 達磨多羅 (Dharmatrāta), người ở núi Hạ Lan tỉnh Cam Túc. Thuở nhỏ Đạt-ma-đa-la đến chùa, rất thích chiêm ngưỡng hình tượng 16 vị La-hán thờ trong điện. Sư phụ cũng hay kể cho cậu bé nghe những chuyện thần kỳ của các vị La-hán, dần dần trong tánh linh trẻ thơ in đậm hình ảnh các Ngài, thậm chí khi ngủ cũng mơ thấy.
Một hôm trong khi đang chiêm lễ, Đạt-ma-đa-la bỗng thấy các hình tượng La-hán cử động, vị thì quơ tay, vị thì chớp mắt như người thật. Ngỡ mình hoa mắt, Đạt-ma-đa-la định thần nhìn kỹ lại, lần này thấy rõ hơn, một số vị còn cười tươi tắn. Từ đó Đạt-ma-đa-la càng thêm siêng năng lễ kỉnh, và ngày nào cũng được chứng kiến các kỳ tích cảm ứng. Đạt-ma-đa-la theo hỏi một vị La-hán cách tu tập để được trở thành La-hán. Ngài chỉ dạy cậu nên siêng năng tọa thiền, xem kinh, làm các việc thiện. Đạt-ma-đa-la phát tâm tu hành, thực hiện lời dạy của bậc La-hán nên chẳng bao lâu chứng quả.
Thành một A-la-hán thần thông tự tại, Ngài thường du hóa trong nhân gian, giảng kinh thuyết pháp, gặp tai nạn liền ra tay cứu giúp. Tôn giả ba lần thu phục một con hổ dữ đem nó về núi cho tu, đi đâu thì dẫn theo. Bên cạnh hình tượng Ngài người ta vẽ thêm một con hổ, Ngài thành danh La-hán Phục Hổ.
La-hán Hàng Long và La-hán Phục Hổ là hai vị được đưa thêm vào danh sách Thập Lục La-hán, để trở thành một truyền thuyết vĩnh viễn được tôn thờ.

La-hán Quá Giang
œ]

Tên của Ngài là Bạt-đà-la 跋陀羅 (Bhadra). Bạt-đà-la còn gọi là Hiền, vì mẹ Ngài hạ sanh Ngài dưới cây Bạt-đà, tức là cây Hiền.
Theo truyền thuyết, Tôn giả rất thích tắm rửa, mỗi ngày tắm từ một đến mười lần, và như vậy rất mất thời gian đồng thời trễ nải công việc. Chẳng hạn khi mọi người thọ trai, Ngài lại đi tắm, khi lên ăn thì cơm rau đã hết. Nhiều buổi tối, Ngài lén đi tắm khi mọi người đang tọa thiền. Thậm chí ngủ nửa đêm cũng thức dậy đi tắm, có khi một đêm tắm năm, sáu lần! Việc này đến tai đức Phật. Thế Tôn kêu Tôn giả đến bên, chỉ dạy cách tắm rửa thiết thực, nghĩa là ngoài việc tẩy rửa thân thể còn phải tẩy rửa cấu uế trong tâm, gột sạch các tham sân phiền não để cả thân tâm đều thanh tịnh.
Tiếp nhận lời Phật dạy, Tôn giả hành trì theo ý nghĩa đích thực của việc tắm rửa, siêng năng gột rửa tâm nên chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán. Từ đó tắm rửa là một pháp tu hữu dụng thiết thực mà Tôn giả thường khuyên dạy mọi người. Các tự viện Trung Hoa thường thờ hình tượng Ngài trong nhà tắm để nhắc nhở ý nghĩa phản tỉnh tư duy.
Tôn giả cũng thường dong thuyền đi hoằng hóa các quần đảo của miền đông Ấn Độ như Java, Jakarta… nên được mang tên La-hán Quá Giang.
Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ sáu, thường cùng 900 vị A-la-hán trụ tại Đam-một-la-châu.

La-hán Thác Tháp
œ]

Tên của Ngài là Tô-tần-đà 蘇頻陀 (Subinda). Thường ngày, Ngài tu tập rất tinh nghiêm, giúp người nhiệt tình nhưng ít thích nói chuyện. Tôn giả ít khi đi theo đức Phật ra ngoài, Ngài chỉ ở yên nơi tinh xá đọc sách hoặc quét sân. Có người phê bình cách nói chuyện của Ngài không hay, đức Phật biết được an ủi: "Này Tô-tần-đà! Nói chuyện hay hoặc dở không liên quan gì đến vấn đề giác ngộ. Mọi người chỉ cần y theo lời ta dạy mà thực hành, dù không nói câu nào cũng thành tựu sự giải thoát".
Đúng thật là Tôn giả hiếm khi lãng phí thời gian vào việc tán gẫu, chỉ dành trọn thời gian tọa thiền nên chứng quả A-la-hán rất sớm.
Đương thời vua nước Án-đạt-la muốn xây dựng một tinh xá u tịch tại núi Hắc Phong, nhưng tìm không ra những tảng đá lớn. Tôn giả chỉ cần vận thần thông trong một đêm, mang đến vô số đá rất lớn từ bên kia sông Hằng. Quốc vương lại muốn tạo một pho tượng thật lớn bằng vàng tôn trí trong tinh xá nhưng kho lẫm quốc gia không đủ cung ứng. Tôn giả chỉ cần nhỏ vài giọt nước xuống mấy phiến đá, chúng đều biến thành vàng. Quốc vương vui mừng gọi thợ giỏi nhất, đến lấy vàng đúc tượng để nhân dân chiêm lễ.
Năm trăm năm sau Phật diệt độ, Tôn giả nhiều lần hiện thân tại nước Kiện-đà-la để giáo hóa. Hình tượng Ngài được tạo với bảo tháp thu nhỏ trên tay, tháp là nơi thờ xá-lợi Phật, giữ tháp bên mình là giữ mạng mạch Phật pháp, vì thế Ngài được gọi là La-hán Nâng Tháp.
Theo Pháp Trụ Ký, ngài Tô-tần-đà là vị La-hán thứ tư, thường cùng 700 vị A-la-hán phần nhiều trụ ở Bắc Câu Lô Châu.

La-hán Thám Thủ
œ]

Hình tượng đưa hai tay lên rất sảng khoái của một vị La-hán sau cơn thiền định. Ngài tên là Bán-thác-ca? 半託迦(Panthaka), Trung Hoa dịch: Đại lộ biên sanh. Ngài là anh của Châu-lợi-bàn-đặc. Tương truyền hai anh em đều sanh ở bên đường, khi mẫu thân trở về quê ngoại sinh nở theo phong tục Ấn Độ.
Bán-thác-ca lớn lên là một thanh niên trí thức, nhân mỗi khi theo ông ngoại đi nghe Phật thuyết pháp, bèn có ý định xuất gia. Được gia đình chấp thuận, Ngài gia nhập Tăng đoàn, trở thành một vị Tỳ-kheo tinh tấn dõng mãnh, chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán. Nhớ đến em mình là Châu-lợi-bàn-đặc, Ngài trở về hướng dẫn em xuất gia. Rất tiếc, thời gian đầu thấy em mình quá dốt nên Ngài khuyên em hoàn tục. Đó cũng là vì tình thương và trách nhiệm nên Tôn giả đối xử như thế, hoàn toàn không phải giận ghét.
Về sau, khi Châu-lợi-bàn-đặc chứng Thánh quả, chính Tôn giả Bán-thác-ca là người mừng hơn ai hết. Cả hai anh em dẫn nhau về pháp đường, đại chúng cảm động tán thán ngợi khen. Đức Phật dạy: "Này Bán-thác-ca và Châu-lợi-bàn-đặc, khó ai được như hai anh em các ông, vừa cùng xuất gia học đạo, vừa tận trừ phiền não lậu hoặc, chứng quả A-la-hán. Sau này hai ông nên đồng tâm hiệp lực lưu lại nhân gian để hoằng dương Phật pháp".
Hai tôn giả vâng lời Phật nên thường tùy hỷ hóa độ chúng sanh.
Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả Bán-thác-ca là vị La-hán thứ mười, Ngài thường cùng 1.100 vị A-la-hán trụ ở Tất-lợi-dương-cù-châu.

La-hán Tiếu Sư
œ]

Tên của Ngài là Phạt-xà-la-phất-đa-la 伐闍羅弗多羅 (Vajraputra). Tương truyền khi còn ở thế tục, Ngài làm nghề thợ săn, thể lực rất tráng kiện, một tay có thể nâng một con voi, hoặc nắm một con sư tử ném xa hơn 10 mét. Mỗi khi muông thú chạm mặt Ngài, chúng đều hoảng sợ lánh xa. Sau khi xuất gia, Ngài nỗ lực tu tập, chứng quả La-hán. Lại có một con sư tử thường quấn quýt bên Ngài, do đó Ngài được biệt hiệu La-hán Đùa Sư Tử.
Về phía Bắc tinh xá Trúc Lâm có ao Ca-lan-đà, nước trong mát có thể trị lành được nhiều bịnh, đức Phật vẫn thường đến đó thuyết pháp. Sau khi Phật diệt độ, nước ao bỗng cạn khô, ngoại đạo bèn phao tin rằng Phật pháp đã suy vi. Tôn giả Phạt-xà-la-phất-đa-la từ châu Bát-thích-noa bay đến, lấy tay chỉ xuống ao, lập tức nước đầy trở lại. Tôn giả bảo mọi người rằng:
- Nước ao cạn khô vì mọi người không có niềm tin kiên cố nơi Phật pháp. Nếu tất cả đều vâng lời Phật dạy, một lòng tín thọ phụng hành như khi Phật còn tại thế thì tôi bảo đảm nước trong ao sẽ không bao giờ cạn khô.
Mọi người nghe Tôn giả nói, ngưỡng vọng uy thần và nhiệt tâm hộ trì Phật pháp của Tôn giả nên phát khởi lòng tin Tam bảo. Từ đó nước ao luôn trong xanh và tràn đầy.
Qua câu chuyện trên chúng ta có thể thấy các bậc La-hán luôn ở tại nhân gian để xiển dương pháp Phật.
Theo Pháp Trụ Ký, ngài là vị La-hán thứ 8, thường cùng 1.100 vị La-hán? trụ ở châu Bát-thích-noa.

La-hán Tĩnh Tọa
œ]

Tên của Ngài là Nặc-cù-la 諾矩羅 (Nakula). Trên vách hang thứ 76 của động Đôn Hoàng có vẽ hình tượng Ngài ngồi kiết già trên phiến đá. Theo truyền thuyết, Ngài thuộc giai cấp Sát-đế-lợi sức mạnh vô song, đời sống chỉ biết có chiến tranh chém giết. Khi theo Phật xuất gia, Ngài đạt quả A-la-hán trong tư thế tĩnh tọa.
Đương thời của Tôn giả, có ngoại đạo Uất-đầu-lam-tử, công phu thiền định cao, từng biện bác với hy vọng chinh phục Tôn giả theo pháp thuật của mình. Nhưng với niềm tin chân chánh, Tôn giả khẳng định rằng chỉ có công phu tọa thiền, quán chiếu bằng trí tuệ, sức nhẫn nhục bền bỉ, nghiêm trì tịnh giới mới đạt được định lực không thối chuyển. Pháp tu luyện ngoại đạo chỉ được định lực tạm thời, không thể an trú vĩnh viễn trong pháp giải thoát, khi gặp cảnh bên ngoài quấy nhiễu sẽ bị hủy hoại.
Sau này quả nhiên Uất-đầu-lam-tử thọ hưởng sự cúng dường nồng hậu của vua nước Ma-kiệt-đà, vì khởi vọng tâm mà toàn bộ công phu tiêu tán, sau khi chết lại rơi vào địa ngục. Tôn giả Nặc-cù-la dùng thiên nhãn thấy rõ điều ấy, một lần nữa cảnh giác với vua Ma-kiệt-đà:
- Đó chính là pháp tu không rốt ráo của ngoại đạo, những phiền não căn bản của con người chưa được diệt trừ hết.
Vua nghe Tôn giả giải thích mới hiểu được Phật pháp chân chánh đáng quý, phát khởi niềm tin nơi Tôn giả.
Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả Nặc-cự-la được xếp vào vị trí La-hán thứ năm, Ngài thường cùng 800 vị A-la-hán trụ ở Nam Thiệm Bộ Châu.

La-hán Tọa Lộc
œ]

Ngài tên là Tân-đầu-lô-phả-la-đọa 賓頭盧頗羅墮 (Pindolabhāradvāja), xuất thân dòng Bà-la-môn, là một đại thần danh tiếng của vua Ưu Điền. Ngài thích xuất gia nên rời bỏ triều đình vào rừng núi nỗ lực tu tập, sau khi chứng Thánh quả cỡi hươu về triều khuyến hóa vua, nhân đó được tặng danh hiệu La-hán Cỡi Hươu.
Nhân một hôm Tôn giả dùng thần thông lấy cái bát quý treo trên cây trụ cao của một trưởng giả, bị Phật quở trách việc biểu diễn thần thông làm mọi người ngộ nhận mục đích tu học Phật pháp. Phật dạy Tôn giả phải vĩnh viễn lưu lại nhân gian để làm phước điền cho chúng sanh, vì thế trong các pháp hội Tôn giả thường làm bậc ứng cúng. Một lần ở thời Ngũ Đại, triều vua Ngô Việt thiết trai, có một Hòa thượng lạ, tướng mạo gầy ốm, lông mày dài bạc trắng bay đến ngồi vào chỗ dành cho khách quý mà ăn uống vui vẻ. Ăn xong Ngài tuyên bố Ngài là Tân-đầu-lô. Dưới thời vua A-dục và vua Lương Võ Đế, Ngài đích thân hiện đến giáo hóa, làm tăng trưởng lòng tin. Thời Đông Tấn ngài Đạo An là bậc cao tăng phiên dịch kinh điển thường lo buồn vì sợ chỗ dịch của mình sai sót. Ngài khấn nguyện xin chư Hiền Thánh hiển lộ thần tích để chứng minh. Tối hôm đó Ngài nằm mộng thấy một vị Hòa thượng lông mày trắng nói:
- Ta là Tân-đầu-lô ở Ấn Độ, lấy tư cách là một đại A-la-hán, ta bảo chứng những kinh điển ông dịch đều rất chính xác.
Tôn giả Tân-đầu-lô là một vị La-hán rất gần gũi nhân gian, Pháp Trụ Ký xếp Ngài là vị La-hán thứ nhất, thường cùng 1.000 vị La-hán trụ ở Tây Ngưu Hóa Châu. 

La-hán Trầm Tư
œ]

Ngài chính là La-hầu-la 羅喉羅 (Rāhula). Sau khi theo Phật xuất gia, nhờ sự giáo dưỡng của Thế Tôn, Ngài bỏ dần tập khí vương giả và thói xấu trêu ghẹo người, nỗ lực tu tập để chứng Thánh quả. Ngài luôn khiêm cung nhẫn nhục, không thích tranh cãi hơn thua, phòng của mình bị người chiếm ở, Ngài lẳng lặng dời vào nhà xí ngủ qua đêm. Đi khất thực bị bọn côn đồ ném đá trúng đầu chảy máu, Ngài lặng lẽ đến bờ suối rửa sạch rồi tự tay băng bó. Tín chủ cúng cho Ngài một tịnh thất, ít lâu sau đòi lại đem cúng người khác, Ngài cũng bình thản? dọn ra khỏi phòng.
Sau khi chứng quả A-la-hán, Ngài vẫn lặng lẽ tu tập. Đức Phật khen tặng Ngài là Mật hạnh đệ nhất và chọn Ngài vào trong số 16 La-hán lưu lại nhân gian. Với đức tánh lặng lẽ, Ngài được tặng danh hiệu La-hán Trầm Tư.
Sau Phật diệt độ, vua nước Câu-thi-na không tin Phật pháp, đập phá chùa viện, thiêu hủy kinh tượng, số người xuất gia giảm sút. Có một Hòa thượng ôm bát vào thành khất thực, nhưng cả thành chẳng ai để ý tới, khó khăn lắm Ngài mới gặp một gia đình tin Phật cúng cho bát cháo nóng. Hòa thượng hớp xong miếng cháo thở dài, thí chủ hỏi thăm thì được Hòa thượng kể lại thời Phật còn tại thế, Ngài cũng từng theo Phật đến đây khất thực, lúc ấy nhà nhà tranh nhau cúng dường, khác hẳn ngày nay. Hòa thượng tiết lộ thân thế mình chính là La-hầu-la, mấy trăm năm nay dốc lòng hoằng dương Phật pháp.
Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị la-hán thứ mười một, thường cùng 1.100 vị A-la-hán trụ ở Tất-lợi-dương-cù châu.

La-hán Trường Mi
œ]

Tên của Ngài là A-thị-đa 阿氏多 (Ajita) thuộc dòng Bà-la-môn nước Xá-vệ. Theo truyền thuyết khi Ngài mới sanh ra đã có lông mày dài rủ xuống, điều báo hiệu kiếp trước Ngài là một nhà sư. Sau khi theo Phật xuất gia, Ngài phát triển thiền quán và chứng A-la-hán.
Ngài cũng là một trong những thị giả Phật, khi chứng quả xong vẫn thường du hóa trong dân gian. Một hôm đến nước Đạt-ma-tất-thiết-đế, nhân dân nước này không tin Phật pháp, chỉ thờ quỷ thần sông núi. Thái tử nước này bệnh nặng, vua cho mời danh y trị bệnh và thỉnh giáo các nhà tu ngoại đạo. Các vị ấy bảo: “Đại vương chớ lo, bệnh của Thái tử không cần uống thuốc cũng khỏi.” Khi gặp tôn giả A-thị-đa, vua hỏi thử thì Tôn giả bảo rằng bệnh không qua khỏi. Vua rất tức giận bỏ đi. Một tuần sau, Thái tử chết thật, vua tạm thời không tổ chức tang lễ, ngày hôm sau vua đi gặp tôn giả A-thị-đa, Ngài chia buồn với vua, còn khi vua gặp các ngoại đạo thì lại nghe chúc mừng Thái tử hết bệnh. Điều này chứng tỏ các ngoại đạo không có dự kiến đúng đắn. Nhà vua từ đó quy ngưỡng Phật pháp. Nhờ sự hoằng dương của Tôn giả mà Phật pháp hưng thịnh ở nước này.
Đã hơn 2.000 năm, nhưng tại Ấn Độ vẫn tin rằng tôn giả A-thị-đa còn đang trị bệnh cho người hay tọa thiền trên núi.
Pháp Trụ Ký xếp Ngài là vị La-hán thứ mười lăm, thường cùng 1.500 A-la-hán trụ trong Linh Thứu Sơn.

Bài đăng Phổ biến