Thứ Ba, 1 tháng 11, 2011

Tìm về nguồn cội qua hát Xẩm


Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trên lưu vực châu thổ sông Hồng thịnh hành một loại hình diễn xướng dân gian đặc sắc đó là hát Xẩm. Với sự lan truyền mạnh mẽ, môi trường diễn xướng rộng rãi và đối tượng khán giả đa dạng, từ một loại hình giải trí lúc nông nhàn, hát Xẩm đã phát triển thành một nghề kiếm sống của người nghèo nơi thành thị và được truyền dạy từ thế hệ này đến thế hệ khác. Theo chân những nhà tiểu thương về đất kinh kỳ, Xẩm đã nhanh chóng thích nghi, và dần trở thành một loại hình văn hóa dân gian đặc sắc ở Hà Nội.

Câu chuyện về nguồn gốc ra đời và ông tổ nghề của hát Xẩm gắn với Thánh tích được lưu truyền trong dân gian. Theo Thánh tích, đời nhà Trần, vua Trần Thánh Tông có hai hoàng tử là Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh. Trần Quốc Toán vì tranh giành quyền lực nên đã chọc mù hai mắt và đẩy Trần Quốc Đĩnh vào giữa rừng sâu. Lúc này, ông được Bụt dạy cho cách làm một cây đàn với dây đàn làm bằng dây rừng và gẩy bằng que nứa. Kì lạ thay, tiếng đàn vang lên những âm thanh rất hay khiến chim muông sà xuống nghe và mang hoa quả đến cho ông ăn.  Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa ông về. Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người nghèo, người khiếm thị. Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đến tận hoàng cung, vua vời ông vào hát và nhận ra con mình. Trở lại đời sống cung đình nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca dạy cho người dân để họ có nghề kiếm sống. Hát Xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát Xẩm nói riêng cũng như hát xướng dân gian Việt Nam nói chung.  
So với các loại hình âm nhạc dân gian khác như ca trù, chầu văn, chèo…, Xẩm có thể nói là loại hình âm nhạc bám sát văn học dân gian nhất. Lời ca trong hát xẩm không chỉ phong phú về mặt thể loại: từ ca dao, tục ngữ, truyện thơ dân gian, đến những bài thơ của các tác giả nổi tiếng như Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Nguyễn Bính, Phan Bội Châu… mà còn đa dạng về mặt nội dung. Nội dung của Xẩm đề cập đến những vấn đề của đời sống xã hội, mang tính nhân văn sâu sắc. Đó là những tự sự về thân phận, nỗi khổ của những người nghèo khó, với những cảnh đời ngang trái. Đó còn là những chuyện vui nhẹ nhàng, hóm hỉnh, mang tính chất châm biếm các thói hư tật xấu, lên án những hủ tục, tố cáo tội ác của kẻ áp bức, thống trị. Phần lớn lời của các bài Xẩm là do các nghệ sĩ Xẩm tự chế, có thể coi những người hát Xẩm là những người kể chuyện tài ba.  
Hát Xẩm thường tụ nhau thành những nhóm nhỏ từ 2 - 3 hoặc 4 người, gồm vợ chồng, con cái, hoặc anh em, bè bạn... Trong đó, bố hoặc mẹ, hoặc cả bố và mẹ bị khiếm thị, các con sáng mắt đi theo, vừa để đỡ đần bố mẹ, vừa học nghề. Trong số này, trưởng nhóm thường là người cầm đàn bầu hoặc nhị, hồ - tự chơi, tự đệm và hát chính. Những người khác đều phải biết chơi tối thiểu một nhạc cụ.  
Bộ nhạc cụ đơn giản nhất để hát Xẩm chỉ gồm đàn nhị và sênh. Nhóm hát Xẩm đông người có thể dùng thêm đàn bầu, trống mảnh và phách bàn. Để thay cho đàn nhị truyền thống, có thể dùng đàn gáo. Đây là loại đàn được phát triển từ đàn nhị nhưng to và dài hơn, thích hợp khi đệm cho giọng trầm. Sênh dùng đệm nhịp cho hát xẩm có thể là sênh sứa (gồm hai thanh tre hoặc gỗ) hoặc sênh tiền (có gắn thêm những đồng tiền kim loại để tạo âm thanh xúc xắc). Ngoài ra, đàn đáy, trống cơm, sáo và thanh la cũng có thể hiện diện trong hát Xẩm.  


Xẩm có hai làn điệu chính là Xẩm chợ và Xẩm cô đào. Hát Xẩm chợ là một điệu hát mạnh, những tiếng đệm, tiếng đưa hơi đều hát nổi tiếng bằng lời hát chính và đệm đàn bầu hay nhị với sênh phách; còn hát Xẩm cô đào thì điệu hát dịu dàng hơn, những tiếng đệm và tiếng đưa hơi lẫn vào lời chính, cốt giúp cho có nhiều dư âm và bắt khúc được dễ dàng. Hát Xẩm cô đào đệm đàn đáy và sênh phách, không dùng đàn bầu và nhị. Ngoài ra Xẩm còn sử dụng nhiều làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ khác như trống quân, cò lả, hát ví, ru em, quan họ, chèo,...hoặc ngâm thơ.    
Sau này, khi người hát Xẩm ở thôn quê lên các thành thị hát kiếm sống mới sáng tạo thêm các làn điệu mới như Xẩm tàu điện, bến xe. Tàu điện là phương tiện giao thông chủ yếu thời bấy giờ. Xẩm tàu điện xuất hiện và đã khẳng định chỗ đứng như mội loại hình âm nhạc dân gian độc đáo của Hà Nội. Xẩm tàu điện đã tái hiện những địa danh, những làng nghề, nếp sinh hoạt và cả những gì đặc thù nhất trong đời sống xã hội của đất kinh kỳ ngàn năm tuổi.  
Các làn điệu dân ca khác khi được dùng trong hát Xẩm đã được "Xẩm hoá" theo phong cách đặc trưng của Xẩm. Trên thực tế, cách gọi tên các loại Xẩm không phải theo làn điệu mà theo một số tiêu thức khác. Chẳng hạn, Xẩm thập ân gọi theo tên bài xẩm ca ngợi công đức của cha mẹ, Xẩm anh Khoá gọi theo tên bài thơ được hát theo điệu xẩm Tiễn chân anh Khoá xuống tàu của Á Nam Trần Tuấn Khải…  
Ngày nay, xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ khiến cho những giá trị văn hóa truyền thống dần dần bị mai một. Việc lưu giữ, bảo tồn các giá trị truyền thống, bản sắc dân tộc được đặt ra một cách cấp thiết. Hát Xẩm không chỉ có ý nghĩa về mặt văn hóa mà ẩn chứa trong đó là đời sống, tư tưởng, tâm hồn của cha ông xưa.
Phạm Phương (TTTTDL) tổng hợp

Hoang sơ rừng nguyên sinh Khe Rỗ - Bắc Giang


Cách trung tâm thành phố Bắc Giang khoảng 80km về phía đông theo tuyến đường Lục Nam – Lục Ngạn – Sơn Động – Quảng Ninh,  đến thị trấn An Châu của Sơn Động men theo con đường rừng, quý khách sẽ đến khu rừng nguyên sinh Khe Rỗ, một khu rừng nguyên sinh tiêu biểu của vùng Đông Bắc Việt Nam.

Với diện tích 7.153ha trong đó có 5.092ha là rừng tự nhiên, rừng nguyên sinh Khe Rỗ có thảm động thực vật phong phú, đa dạng với nhiều loài gỗ, thảo dược quý hiếm. Hiện tại, khu rừng có 236 loài thực vật và cây lấy gỗ, 255 loài dược liệu quý; ngoài ra còn có 37 loài thú, 73 loài chim, 18 loài bò sát, 7 loài thuộc loại động vật quý hiếm có tên trong sách đỏ, đặc biệt có loài lửng chó mà trên thế giới hiện đã gần như bị tuyệt chủng.  

Do đặc trưng địa hình núi cao, khu rừng nguyên sinh Khe Rỗ được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho một khí hậu trong lành, mát mẻ. Vào mùa hè, nhiệt độ trung bình chỉ khoảng 24 - 28°C; vào mùa đông, khu rừng lại như khoác trên mình chiếc áo ấm áp từ sự đan xen tuyệt vời của những tán cây rừng rậm rạp.    
Đến rừng nguyên sinh Khe Rỗ, du khách sẽ được chiêm ngưỡng một phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ với những dãy núi trùng điệp nối tiếp nhau. Trong khe núi có nhiều mạch nước ngầm thường xuyên tuôn chảy tạo ra những dòng suối trong mát, luồn lách, ôm ấp các ngọn núi. Đặc biệt, trong Khe Rỗ có 2 con suối lớn là suối nước Vàng và Khe Đin. Sở dĩ gọi là suối nước Vàng vì con suối này có dòng nước vàng quanh năm như mật ong; trong khi đó, suối Khe Đin lại chảy dài với những đoạn thác cao đến 3, 4 tầng, mỗi tầng khoảng 30 - 40m. Nơi những thác nước đổ xuống là những vũng nước trong vắt nhìn thấu đáy như: vũng tròn, vũng soong...thích hợp cho bơi lội hay tắm mát, đồng thời, thích hợp cho những chuyến picnic, leo núi khám phá khu rừng nguyên sinh.  
Qua một vài con suối nhỏ, men theo sườn núi đi sâu vào trong rừng, du khách sẽ ngỡ ngàng trước một bức tranh thiên nhiên muôn màu sắc được tạo nên bởi những cánh rừng già rậm rạp, um tùm. Thi thoảng trên đường đi, du khách sẽ bắt gặp những chú sóc tinh nghịch leo trèo hay những chú khỉ nhí nhảnh đùa giỡn với nhau trên cành cây. Đâu đó là những bầy ong vo ve tìm hoa làm mật hay những đàn bướm đủ màu sắc thi nhau bay lượn. Cùng với đó là tiếng chim ríu rít, tiếng suối chảy róc rách, tiếng thú rừng hú vang gọi bầy tạo nên một bản nhạc rừng rộn rã, vui tươi, làm náo nức lòng người. Tất cả những hình ảnh, âm thanh, cảnh vật ấy hòa quyện, pha trộn vào nhau tạo nên một không khí sôi động, đầy nhựa sống của núi rừng nơi đây.  


Không chỉ hấp dẫn bởi cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, hữu tình và thảm động thực vật phong phú, đa dạng, khu vực rừng nguyên sinh Khe Rỗ còn thu hút du khách bởi sự mến khách và thân thiện của đồng bào các dân tộc nơi đây. Đây là nơi chung sống của nhiều cộng đồng dân tộc, mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa khác nhau, những phong tục tập quán riêng biệt, tạo nên những nét đặc trưng của văn hoá mang tính vùng miền. Người dân tộc sống ở vùng này chủ yếu là người Tày, người Dao, người Hoa và người Kinh. Ngoài ra, du khách còn có thể đến thăm bản dân tộc Sán chí với hơn 40 hộ.    
Đến đây, du khách sẽ được người dân địa phương mời thưởng thức những đặc sản của núi rừng như chút mật ong đậm đặc vàng quánh thơm nức hay những trái chín cây thơm ngọt quyến rũ đến nao lòng. Chắc chắn không thể bỏ qua đó là món cá trôi mắt đỏ. Theo người dân sống quanh đây thì thức ăn của loài cá này chủ yếu là các loại mầm cây thuốc quý và các côn trùng, sinh vật từ các dòng thác đổ về nên thịt cá rất thơm ngon. Ngoài ra, du khách còn được thưởng thức món ốc hương suối, một loài ốc chỉ sống ở trong các hốc đá trong lòng suối; thức ăn của loài ốc này là các loại rêu, tảo, nấm mọc trên các rễ cây ven suối nên ốc rất sạch và bổ . Người dân gọi đây là hải sâm của rừng.  
Với những tiềm năng tự nhiên sẵn có, rừng nguyên sinh Khe Rỗ có đầy đủ các yếu tố thuận lợi rất phù hợp cho việc phát triển các loại hình du lịch đang phát triển hiện nay đó là: du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm, du lịch nghiên cứu, du lịch nghỉ dưỡng… Rừng nguyên sinh Khe Rỗ vẫn như cô gái đẹp ngủ quên trong rừng với những nét đẹp tiềm ẩn đang chờ được đánh thức.
Phạm Phương (TTTTDL) biên tập

Bài đăng Phổ biến